[85] Công ước Viên 1969: Giới thiệu chung

Bối cảnh lịch sử – Hiện trạng phê chuẩn – Nội dung chính – Giá trị tập quán quốc tế – Công ước Viên là bộ phận quan trọng của Luật điều ước quốc tế nói chung / Phạm vi điều chỉnh

1. Bối cảnh lịch sử và hiện trạng phê chuẩn

Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969 (“Công ước Viên” hoặc “VCLT 1969”) là điều ước quốc tế đa phương duy nhất điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các quốc gia. Công ước Viên được Ủy ban Luật pháp Quốc tế (“ILC”) nghiên cứu dự thảo từ năm 1949. Dự thảo gồm 75 điều khoản (xem Dự thảo và thuyết minh điều khoản tại đây). Năm 1966 ILC thông qua dự thảo các điều khoản về luật điều ước quốc tế, gửi cho Đại hội đồng Liên hợp quốc và đề nghị Đại hội đồng ra nghị quyết triệu tập một hội nghị ngoại giao để thông qua một công ước quốc tế.[1] Thuận theo đề nghị của ILC, ngày 5 tháng 12 năm 1966, Đại hội đồng thông qua Nghị quyết 2166 (XXI) “quyết định triệu tập một hội nghị quốc tế toàn thể để xem xét vấn đề luật điều ước quốc tế và ghi nhận kết quả bằng một công ước quốc tế và các văn kiện khác nếu phù hợp.”[2]

Hội nghị Liên hợp quốc về Luật điều ước quốc tế kéo dài hai phiên họp tại Vienna (Áo) vào năm 1968 và 1969. Phiên họp thứ nhất năm 1968 có sự tham gia của đại diện 103 quốc gia và quan sát viên từ 13 tổ chức quốc tế.[3] Phiên họp thứ hai vào năm 1969 có đại diện của 110 quốc gia và quan sát viên.[4] Tại Hội nghị này, Việt Nam Cộng hòa có cử đại diện tham gia (Danh sách đoàn tham gia năm 19681969). (Ít nhất) có một ý kiến của đoàn Việt Nam Cộng hòa được Hội nghị chấp nhận để bổ sung vào văn kiện Công ước Viên sau này (Điều 35 trong vấn đề Hiệu lực của điều ước uốc tế với bên thứ ba).

Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế được thông qua tại Hội nghị vào ngày 22 tháng 5 năm 1969 với 79 phiếu ủng hộ, 01 phiếu chống và 19 phiếu trắng. Hội nghị này cũng là hội nghị pháp điển hóa luật pháp quốc tế cuối cùng mà văn kiện được thông qua bằng cách bỏ phiếu;[5] các hội nghị sau đều dùng cách đồng thuận. Công ước có hiệu lực vào ngày 27 tháng 01 năm 1980 sau khi có đủ 35 quốc gia phê chuẩn theo quy định tại Điều 84(1). Hiện nay Công ước có 116 quốc gia thành viên.[6]

Việt Nam gia nhập Công ước vào ngày 10 tháng 10 năm 2001, kèm theo một bảo lưu đối với Điều 66.[7] Một số quốc gia quan trọng không là thành viên của Công ước bao gồm Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nam Phi, Pakistan; ở khu vực ASEAN năm nước chưa gia nhập bao gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Singapore, và Thái Lan.

Ch_XXIII_01-7-7-001

2. Nội dung chính của Công ước

Công ước Viên quy định toàn diện các khía cạnh liên quan đến luật điều ước quốc tế, bao gồm các quy định bao quát “vòng đời” của một điều ước quốc tế: ký kết – thực thi – hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước quốc tế. Công ước đặt ra các quy định để xác lập một cách hợp pháp một điều ước quốc tế, từ quyền năng ký kết điều ước của quốc gia, về người đại diện quốc gia, về các bước ký kết điều ước quốc tế, về bảo lưu điều ước quốc tế và về vô hiệu điều ước quốc tế. Sau khi xác lập thành công một điều ước quốc tế, Công ước có các quy định chi tiết về quá trình thực thi điều ước quốc tế từ thời điểm và cách thức có hiệu lực,về hiệu lực của điều ước, về nguyên tắc pacta sunt servanda, về giải thích điều ước quốc tế. Công ước cũng đặt ra các quy định về cách thức hợp pháp để hủy bỏ, đình chỉ thi hành một điều ước quốc tế.

3. Quan hệ với các quy định tập quán quốc tế

Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là hai nguồn chính yếu của luật pháp quốc tế nói chung (xem giới thiệu chung về các nguồn của luật quốc tế tại đây). Không hiếm khi có các quy định của luật quốc tế vừa là quy định điều ước vừa là quy định tập quán quốc tế, ví dụ như nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực. Trong lĩnh vực điều ước quốc tế, hiện tượng như thế tồn tại khá phổ biến.

Một bộ phận đáng kể các quy định của Công ước Viên đều được xem là phản ánh quy định tập quán quốc tế.[8] Các quy định còn lại có thể xem là cơ sở để của các quy định tập quán đang hình thành.[9] Trên thực tế, sẽ không ngạc nhiên khi xem xét một vụ việc liên quan đến vấn đề điều ước quốc tế, các tòa án quốc tế và quốc gia sẽ sử dụng Công ước như điểm bắt đầu hoặc thậm chí áp dụng ngay quy định của Công ước như quy định tập quán.[10] Một thực tế là cho đến hiện nay Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã xem xét và áp dụng quy định của Công ước trong nhiều vụ việc và chưa một lần nào bác bỏ giá trị tập quán của Công ước.[11] Tóm lại, có thể nói rằng hầu hết các quy định quan trọng của Công ước đều phản án quy định tập quán quốc tế.

Từ việc Công ước cũng phản ánh các quy định tập quán tồn tại song song, có hai điểm có thể rút ra. Thứ nhất, đây có thể là lý do mà một số các quốc gia không gia nhập Công ước. Nếu Công ước đã phản ánh quy định tập quán, và quy định tập quán ràng buộc tất cả các quốc gia thì việc gia nhập hay không gia nhập Công ước về bản chất là không khác nhau. Thứ hai, việc các quốc gia không gia nhập Công ước sẽ không là rào cản pháp lý quá lớn để một quốc gia là thành viên Công ước viện dẫn và áp dụng Công ước trong quan hệ với quốc gia không là thành viên.

Cho đến hiện nay, thông qua các vụ việc mà các cơ quan tài phán đã xét xử, hàng loạt các quy định của Công ước đã được xác nhận là phản ánh quy định của tập quán quốc tế. Việc sử dụng các quy định này trong quan hệ điều ước giữa tất cả các quốc gia là thành viên và không là thành viên Công ước là không thể tranh cãi. Các quy định đó bao gồm quy định về giải thích điều ước quốc tế (Điều 31 và 32), vô hiệu điều ước do đe dọa hay sử dụng vũ lực (Điều 52), về hủy bỏ, đình chỉ thi hành điều ước do vi phạm nghiêm trọng (Điều 60), không có khả năng thực hiện điều ước (Điều 61), hay do sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh (Điều 62).[12]

4. Công ước Viên là bộ phận quan trọng của luật điều ước quốc tế – Phạm vi điều chỉnh

Như đã nói ở trên, Công ước Viên là điều ước quốc tế duy nhất hiện nay điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các quốc gia. Năm 1986 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế giữa quốc gia và tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nahu cũng đã được thông qua, nhưng chưa có hiệu lực. Với vị trí độc nhất như thế, Công ước Viên có thể được xem là bộ phận quan trọng của toàn bộ luật điều ước quốc tế.

Tuy nhiên, Công ước Viên chỉ là một bộ phận của ngành luật điều ước quốc tế. Luật điều ước quốc tế còn được ghi nhận trong tập quán quốc tế, và bộ phận quy định trong tập quán quốc tế còn nhiều và rộng hơn so với Công ước Viên. Tập quán quốc tế về luật điều ước quốc tế không chỉ bao gồm các quy định trong Công ước Viên mà còn bao gồm các quy định điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các chủ thể khác của luật quốc tế. Do Công ước Viên chỉ điều chỉnh hạn hẹp quan hệ điều ước giữa quốc gia và quốc gia, điều ước quốc tế bằng văn bản và điều ước quốc tế ký kết sau ngày Công ước có hiệu lực;[13] các điều ước quốc tế khác sẽ được điều chỉnh theo quy định tập quán quốc tế. Ví dụ như điều ước quốc tế giữa tổ chức quốc tế và quốc gia, giữa tổ chức quốc tế và tổ chức quốc tế, điều ước quốc tế phi-văn bản, và các điều ước ký kết trước ngày 27 tháng 01 năm 1980. Lời nói đầu của Công ước Viên đã khẳng định rõ rằng: “Xác nhận rằng các quy định của luật tập quán quốc tế sẽ tiếp tục điều chỉnh các vấn đề không được quy định bởi các điều khoản của Công ước này.” Điều 3(a) của Công ước khẳng định CÔng ước không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của các điều ước quốc tế giữa các chủ thể khác của luật quốc tế và điều ước quốc tế phi-văn bản. Tóm lại, luật điều ước quốc tế là tập hợp các quy định điều chỉnh quan hệ điều ước giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế mà một bộ phận quan trọng của các quy định này được ghi nhận trong Công ước Viên.

Điều ước quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên

Điều ước quốc tế nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên và chỉ chịu điều chỉnh bởi tập quán quốc tế

  • Điều ước quốc tế giữa Quốc gia và Quốc gia.

  • Điều ước quốc tế giữa Quốc gia và Tổ chức quốc tế.
  • Điều ước quốc tế giữa Tổ chức quốc tế và Tổ chức quốc tế.
  • Điều ước quốc tế bằng văn bản.
  • Điều ước quốc tế phi-văn bản.
  • Điều ước quốc tế ký kết sau ngày Công ước có hiệu lực (ngày 27/01/1980).
  • Điều ước quốc tế ký kết trước ngày Công ước Viên có hiệu lực.
  • Điều ước quốc tế nêu trên được ký kết giữa các Quốc gia là thành viên của Công ước.
  • Điều ước quốc tế ký kết giữa các Quốc gia là thành viên của Công ước và Quốc gia không là thành viên
  • Điều ước quốc tế giữa các Quốc gia đều không là thành viên.

Trần H.D. Minh

Xem thêm các bài về luật điều ước quốc tế:

  1. Định nghĩa “điều ước quốc tế”
  2. Quyền năng và thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế
  3. Các bước ký kết điều ước quốc tế
  4. Bảo lưu điều ước quốc tế (xem thêm về Thực tiễn bảo lưu điều ước của Việt Nam)
  5. Hiệu lực của điều ước quốc tế
  6. Áp dụng các điều ước quốc tế cùng điều chỉnh một vấn đề (xung đột điều ước)
  7. Hiệu lực pháp lí và việc áp dụng điều ước ở Việt Nam
  8. Thực tiễn áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế tại Việt Nam
  9. Sửa đổi và bổ sung điều ước
  10. Vô hiệu điều ước
  11. Huỷ bỏ, đình chỉ thi hành điều ước
  12. Giải thích điều ước quốc tế: Công ước Viên 1969: Giải thích điều ước quốc tế, Các cách tiếp cận ngoài Công ước Viên năm 1969, và Thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế.

—————————————————————-

[1] Karl Zemanek, Introductory Note: Vienna Convention on the Law of Treaties, xem tại http://legal.un.org/avl/ha/vclt/vclt.html (truy cập ngày 10/6/2018).

[2] Đại hội đồng, Nghị quyết 2166 (XXI) (1966), đoạn 2.

[3] United Nations Conference on the Law of Treaties (Vienna, 26 March – 24 May 1968 and 9 April – 22 May 1969), xem tại http://legal.un.org/diplomaticconferences/1968_lot/ (truy cập ngày 10/6/2018).   [4] Như trên.

[5] Xem chú thích 1.

[6] Xem thông tin tại đây: https://treaties.un.org/PAGES/ViewDetailsIII.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=XXIII-1&chapter=23&Temp=mtdsg3&clang=_en (truy cập ngày 10/6/2018).   [7] Như trên.

[8] Malcolm N Shaw, International Law, 6th ed. (OUP, 2008) 903; James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law, 8th ed. (OUP) 367 – 368.   [9] James Crawford, như trên.   [10] Anthony Aust, Modern Treaty Law and Practice, 2nd ed. (CUP, 2007) 12.   [11] Như trên, tr. 13.   [12] Như trên.

[13] Công ước Viên, Điều 1(1)(a) về định nghĩa điều ước quốc tế, Điều 3 về các thỏa thậun quốc tế nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước, và Điều 4 về không có hiệu lực hồi tố của Công ước.

16 thoughts on “[85] Công ước Viên 1969: Giới thiệu chung

Add yours

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: