[182] Ngày 16.03.2020, Tòa trọng tài công bố phán quyết về thẩm quyền trong Vụ kiện về các quyền của quốc gia ven biển tại Biển Đen giữa Ukraine và Nga

Ngày 14.09.2016, Bộ Ngoại giao Ukraine thông báo đã khởi kiện Nga theo thủ tục trọng tài được trù định tại Phụ lục VII Công ước Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) “nhằm làm sáng tỏ các quyền của nước này với tư cách quốc gia ven biển đối với các vùng biển tiếp giáp Crimea tại Biển Đen, Biển Azov, và Eo biển Kerch,” và cáo buộc rằng:

“Kể từ khi Liên bang Nga có hành vi xâm lược bất hợp pháp tại Crimea, Nga đã cưỡng ép và can thiệp vào các quyền trên biển của Ukraine trên các vùng biển này. Ukraine cố gắng chấm dứt các vi phạm UNCLOS của Liên bang Nga và làm sáng tỏ quyền của Ukraine trên Biển Đen, Biển Azov, và Eo biển Kerch, bao quyền các quyền của Ukraine đối với tài nguyên thiên nhiên ngoài khơi Crimea thuộc về người Ukraine.”

Ngày 16.09.2016, thủ tục trọng tài chính thức được kích hoạt, tên chính thức là Vụ tranh chấp liên quan đến các quyền của quốc gia ven biển tại Biển Đen, Biển Azov, và Eo biển Kerch. Ngày 21.02.2020, Tòa trọng tài ra Phán quyết về thẩm quyền, và đề nghị Ukraine và Nga cho ý kiến về liệu Phán quyết có chứa thông tin mật mà các bên không muốn công bố hay không. Ngày 16.03.2020, Tòa trọng tài chính thức công bố Phán quyết, xem toàn văn Phán quyết và thông cáo báo chí.

Lưu ý rằng xung quanh vấn đề Crimea, có đến 03 vụ kiện quốc tế giữa Ukraine và Nga, ngoài vụ việc này (khởi kiện năm 2016), còn có Vụ liên quan đến Công ước chống tài trợ khủng bố và Công ước chống phân biệt chủng tộc trước Tòa ICJ (khởi kiện năm 2017, tại đây, xem thêm postvề Phán quyết của Tòa ICJ về thẩm quyền năm 2019); Vụ tranh chấp liên quan đến việc Nga bắt giữ tàu hải quân và thủy thủ của Ukraine trước Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS (khởi kiện năm 2019, tại đây).

Các đệ trình của Ukraine

Ukraine đưa ra 20 đệ trình cáo buộc Nga vi phạm hàng loạt các quy định của UNCLOS, bao gồm các điều khoản liên quan đến quy chế pháp lý của lãnh hải (Điều 2, 21), vùng tiếp giáp lãnh hải (Điều 33, 303) vùng đặc quyền kinh tế (Điều 56, 58, 60, 73), thềm lục địa (Điều 77), quy chế tàu thuyền trên biển (Điều 92), quy chế quá cảnh qua các eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế (Điều 38, 43, 44), nghĩa vụ hợp tại trong vùng biển kín hoặc nửa kín liên quan đến bảo vệ môi trường biển (Điều 123, 192, 194, 198, 199, 204, 205, 206), và nghĩa vụ không làm trầm trọng hay mở rộng tranh chấp (Điều 279).[1] Theo đó, Ukraine yêu cầu Tòa tuyên bố buộc Nga phải chấm dứt hành vi vi phạm, cam kết không tái phạm, và phải bồi thường thiệt hại cho Ukraine, bao gồm khoản tiền 1.94 tỷ USD giá trị dầu khí Nga đã khai thác từ vùng biển xung quanh Crimea.[2]

Tóm lại, sau khi Crimea sáp nhập vào Nga vào năm 2014, theo quan điểm của Nga, Crimea trở thành lãnh thổ của Nga và Nga có các quyền của quốc gia ven biển đối với các vùng biển xung quanh Crimea. Trong khi đó, Ukraine xem Crimea là lãnh thổ của mình và chính Ukraine mới là quốc gia ven biển có các quyền đối với các vùng biển của Crimea. Như vậy, câu hỏi trọng tâm thực chất là chủ quyền của Crimea thuộc về Ukraine hay Nga. Khi đã xác định được quốc gia nào có chủ quyền thì quốc gia đó chính là quốc gia ven biển có các quyền đối với các vùng biển xung quanh Crimea.

Crimea

Phản đối thẩm quyền của Nga

Theo bản tranh tụng của Nga, nước này đưa ra 06 phản đối thẩm quyền, như sau:

  • Tòa trọng tài không có thẩm quyền đối với yêu sách chủ quyền của Ukraine theo Điều 288(1) UNCLOS;
  • Tòa trọng tài không có thẩm quyền đối với các đệ trình liên quan đến hoạt động tại Biển Azov và Eo biển Kerch bởi vì UNCLOS không áp dụng đối với Biển Azov và Eo biển Kerch;
  • Tòa không có thẩm quyền đối với các đệ trình liên quan đến hoạt động quân sự và hoạt động thực thi pháp luật, cũng như các đệ trình liên quan đến phân định biển, vịnh lịch sử hay danh nghĩa lịch sử đã bị loại trừ theo Điều 298(1) UNCLO;
  • Tòa không có thẩm quyền đối với các đệ trình liên quan đến đánh bắt cá theo các ngoại lệ tại Điều 297(3) UNCLOS;
  • Tòa không có thẩm quyền đối các vấn đề đánh bắt cá, bảo về môi trường biển và hàng hải bởi vì các vấn đề này chỉ có thể giải quyết theo thủ tục trọng tài đặc biệt tại Phụ lục VIII UNCLOS;
  • Tòa không có thẩm quyền bởi vì Nga và Ukraine đã có thỏa thuận loại trừ cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp khác theo Điều 281 UNCLOS.

Kết luận của Tòa trọng tài trong Phán quyết ngày 21.02.2020

Sau khi xem xét 06 phản đối của Nga, Tòa ủng hộ 01 phản đối, bảo lưu để xem xét sau 01 phản đối và bác bỏ các phản đối còn lại. Cụ thể, Tòa kết luận rằng:[3]

  • Tòa chấp nhận phản đối của Nga liên quan đến các yêu sách chủ quyền của Ukraine đối với Crimea, theo đó, Tòa trọng tài sẽ không xem xét hay ra phán quyết đối với các vấn đề “trong chừng mực mà phán quyết của Tòa trọng tài về nội dung của các đệ trình của Ukraine yêu cầu Tòa nhất thiết phải quyết định, trực tiếp hay gián tiếp, vấn đề chủ quyền của một Bên đối với Crimea.”
  • Tòa cho rằng phản đối của Nga liên quan đến các hoạt động trong Biển Azov và Eo biển Kerch “không có tính chất sơ bộ thuần túy, và theo đó quyết định bảo lưu vấn đề này để xem xét và quyết định trong giai đoạn thực chất.”
  • Bác bỏ các phản đối còn lại của Nga, yêu cầu Ukraine chỉnh sửa, bổ sung bản tranh tụng của mình “có xem xét đầy đủ đến phạm vi, và giới hạn, thẩm quyền của Tòa trọng tài như đã được quyết định trong Phán quyết này.”

Ukr v Russ Arbitration Annex VII 2020

Một số lập luận thú vị trong Phán quyết

Phán quyết của Tòa trọng tài có 06 điểm đáng chú ý liên quan đến vấn đề thẩm quyền của các cơ quan tài phán theo UNCLOS.

Thứ nhất, Tòa khẳng định rằng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ không thuộc phạm vi thẩm quyền của các cơ quan tài phán UNCLOS, trừ khi vấn đề chủ quyền chỉ là một vấn đề phụ trợ (ancillary) trong tranh chấp [157]. Kết luận này Tòa trích lại từ Phán quyết năm 2015 trong Vụ khu bảo tồn biển Chagos giữa Mauritius và Anh [158]-[159]. Do đó, mọi đệ trình dựa trên căn cứ là một quốc gia có chủ quyền đương nhiên với một vùng lãnh thổ đều không thuộc phạm vi thẩm quyền của Tòa. Trong vụ việc này, đa số đệ trình của Ukraine đều dựa trên căn cứ là Ukraine có chủ quyền đối với Crimea còn Nga thì không, do đó, Tòa khẳng định sẽ không xem xét các đệ trình này, và yêu cầu Ukraine chỉnh sửa lại bản tranh tụng của mình.

Ukr v Russ Arbitration Annex VII 2020_2

Thứ hai, Tòa bác bỏ lập luận rằng yêu sách chủ quyền của một quốc gia cần phải ít nhất là có căn cứ (at least plausible) để có thể loại trừ thẩm quyền của Tòa [187]. Vấn đề Tòa quan tâm là liệu có một tranh chấp chủ quyền giữa hai quốc gia hay không [188], chứ không xem xét đến liệu yêu sách của một bên có vô căn cứ một cách vô lý hay không. Trong vụ kiện này, Ukraine viện dẫn các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc bác bỏ việc thay đổi chủ quyền của Crimea từ Ukraine sang cho Nga như bằng chứng cho thấy cộng đồng quốc tế đều công nhận chủ quyền của Ukraine đối với Crimea, nhưng Tòa không chấp nhận bởi vì inter alia Tòa không có thẩm quyền xem xét vấn đề chủ quyền như đã nói ở trên. Nếu Tòa chấp nhận các nghị quyết đó thì đồng nghĩa với việc gián tiếp quyết định vấn đề chủ quyền.

Thứ ba, Tòa khẳng định lại kết luận của các cơ quan tài phán trong các vụ việc trước đó rằng tranh chấp liên quan đến nội thủy vẫn là tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước thuộc phạm vi thẩm quyền của Tòa bởi vì “cái cấu thành nội thủy được điều chỉnh bởi Công ước”, và Công ước cũng có quy định về nội thủy (Điều 8(2)) [294]-[295].

Thứ tư, lần đầu tiên có cơ quan tài phán quốc tế giải thích nội hàm của “tranh chấp liên quan đến hoạt động quân sự” theo ngoại lệ tùy chọn tại Điều 298(1)(b). Tòa cho rằng việc yêu cầu tranh chấp phải “liên quan” (concerning) hoạt động quân sự cho thấy cách hiểu chặt chẽ hơn buộc các tranh chấp phải có nội dung là hoạt động quân sự [330], và hoạt động quân sự không nhất thiết phải do các tàu quân sự hay máy bay quân sự thực hiện mà có thể do các tàu hay máy bay công vụ phục vụ mục đích phi thương mại thực hiện [333]. Mặc khác, Tòa cũng cho rằng chỉ riêng việc liên quan hay hiện diện của tàu quân sự không đủ để được xem là một tranh chấp về hoạt động quân sự [334].

Thứ năm, để viện dẫn ngoại lệ về tranh chấp liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật trên vùng đặc quyền kinh tế theo Điều 298(1)(b), Tòa cho rằng quốc gia viện dẫn phải là quốc gia ven biển đối với vùng biển liên quan [356], trong khi trong vụ việc này bởi vì Tòa không có thẩm quyền xác định Nga hay Ukraine có chủ quyền đối với Crimea nên không thể xác định nước nào là quốc gia có quyền đối với vùng biển xung quanh Crimea [357]-[358]. Tương tự, để viện dẫn ngoại lệ về tranh chấp liên quan đến phân định biển theo Điều 298(1)(a), Tòa cho rằng một tranh chấp phân định biển chỉ phát sinh khi yêu sách hợp pháp của các bên chồng lấn [379], trong khi trong vụ việc này Tòa không có thẩm quyền xác định yêu sách của Nga và Ukraine đối với vùng biển xung quanh Crimea có hợp pháp hay không do vướng vấn đề chủ quyền không thuộc thẩm quyền của Tòa [382].

Thứ sáu, ngoại lệ về tranh chấp liên quan đến quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế theo Điều 297(3)(a) UNCLOS không thể được viện dẫn bởi vì Tòa không thể xác định được Nga hay Ukraine là quốc gia ven biển đối với vùng biển xung quanh Crimea do vướng vấn đề chủ quyền không thuộc thẩm quyền của Tòa [402].

Trần H. D. Minh

————————————————————

[1] Các đệ trình được trích lại trong Phán quyết ngày 21.20.2020, tr. 5-6 [17].

[2] Như trên, tr. 6-7 [18].

[3] Như trên, tr. 142 [492].

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: