[181] Thử quy chiếu chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc vào Hiệp ước Svalbard năm 1920

Ngày 09.02.2020 vừa qua, một số hoạt động đã diễn ra để kỷ niệm 100 năm ngày Hiệp ước Svalbard được ký kết (hay còn gọi theo tên gốc cũ của quần đảo này là Hiệp ước Spitsbergen) vào năm 1920. Hiệp ước vừa giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền quần đảo Svalbard bằng cách công nhận chủ quyền của Na Uy đối với quần đảo này trong khi Na Uy công nhận hàng loạt các quyền của các quốc gia ký kết khác. Mặc dù có những khác biệt lớn về bối cảnh lịch sử, Hiệp ước gọi nhớ đến chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Bài viết sẽ thử quy chiếu chính sách trên vào mô hình Hiệp ước Svalbard. 

Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc

Trong các cuộc gặp với phía Nhật Bản vào năm 1978 và 1979, Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đưa ra nêu ra ý tưởng về việc hai nước nên đặt sang bên tranh chấp chủ quyển đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku giữa hai nước, mà nên tập trung vào vấn đề cùng phát triển tài nguyên. Tháng 06.1979, Trung Quốc chính thức đưa ra chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” (“setting aside dispute and pursuing joint development”). Vào, những năm 1980, Đặng Tiểu Bình cũng thể hiện quan điểm muốn áp dụng chính sách đó vào tranh chấp tại Biển Đông. Xem lịch sử hình thành chính sách này tại đây.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc giải thích chính sách này gồm bốn yếu tố như sau:[1]

  1. Chủ quyền lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc.
  2. Khi điều kiện chưa chín mùi để giải quyết rốt ráo tranh chấp chủ quyền, việc trao đổi về vấn đề chủ quyền có thể tạm dừng để đặt tranh chấp sang một bên. Việc gác tranh chấp không đồng nghĩa với việc từ bỏ chủ quyền, chỉ là tạm thời đặt sang bên tranh chấp.
  3. Lãnh thổ tranh chấp có thể cùng khai thác chung.
  4. Mục đích của phát triển chung là để tăng cường hiểu biết chung thông qua hợp tác và tạo điều kiện cho việc giải quyết thực sự vấn đề sở hữu lãnh thổ.

Screen Shot 2020-02-16 at 00.28.48

Với câu chữ và nội dung như trên, chính sách trên không hấp dẫn đến mức các quốc gia liên quan thấy đáng để xem xét nghiêm túc, chưa nói đến ngay điểm (1) đã đòi hỏi chủ quyền – một vấn đề thiêng liêng, bất khả nhân nhượng và nhạy cảm bậc nhất. Trong khi Trung Quốc đòi hỏi quá nhiều – chủ quyền lãnh thổ – thì lại chỉ hứa rằng “có thể” chứ không chắc chắn cùng khai thác chung, và cũng chẳng nói rõ khai thác chung cái gì để đổi lại các nước chấp nhận đòi hỏi trên. Xem thêm các phân tích về chính sách này của Trung Quốc tại đây, và đây.

P/S: Trong bối cảnh tranh chấp tại Biển Đông, “lãnh thổ tranh chấp” có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao quát toàn bộ vùng biển nằm trong yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, hoặc ít nhất là các đảo tranh chấp cùng với vùng biển tạo ra từ các đảo đó. 

Hiệp ước Svalbard năm 1920

Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc gợi nhớ một số điểm tương đồng với nội dung Hiệp ước Svalbard năm 1920. Hiệp ước này giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Svalbard và quyền của các quốc gia khác trên quần đảo này.

Quần đảo Svalbard là một nhóm đảo rộng lớn (khoảng 61.000km2, tương đương gần 1/5 lãnh thổ Việt Nam) được người Hà Lan phát hiện lần đầu tiên, sau đó là người Anh vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Trong những thế kỷ tiếp theo các quốc gia khác cũng có người đến sinh sống và khai thác tài nguyên trên quần đảo, chủ yếu là cá voi và moóc/voi biển. Đến thế kỷ 19, Na Uy thể hiện ý định muốn các quốc gia công nhận chủ quyền của Na Uy đối với quần đảo này.

Quan doa Svalbard - Copy

Tại Hội nghị Hòa bình Paris giải quyết vấn đề hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đã chấp nhận ký Hiệp ước Salvard với tên gọi đầy đủ là “Hiệp ước công nhận chủ quyền của Na Uy đối với Quần đảo Spitsbergen” vào ngày 09.02.1920 (bản tiếng Anh tại đây), có hiệu lực từ ngày 14.08.1925.

Từ 09 nước ký kết ban đầu (Mỹ, Anh, Đan Mạch, Pháp, Italy, Nhật Bản, Na Uy, Hà Lan và Thụy Điển) đến hiện nay là 47 quốc gia, trong đó thành viên mới nhất là Latvia và Triều Tiên (2016), Hàn Quốc và Lithuania (2012).[2]

Nội dung chính của Hiệp ước Svalbard là:

  • Một mặt, các quốc gia ký kết công nhận “chủ quyền đầy đủ và tuyệt đối của Na Uy” đối với Quần đảo Svalbard.
  • Mặt khác, Na Uy công nhận hàng loạt các quyền của các quốc gia ký kết tại quần đảo Svalbard, như công dân, tàu thuyền và hàng hóa của tất cả các quốc gia ký kết sẽ có quyền khai thác hải sản một cách bình đẳng (Điều 2), được ra vào, lên quần đảo một cách tự do vì bất kỳ mục đích nào, được đối xử bình đẳng và không bị cản trở trong việc hoạt động hàng hải, công nghiệp, khai khoáng và thương mại (Điều 3); các trạm thông tin vô tuyết công cộng sẽ mở cho tất cả tàu thuyền của tất cả các nước, và công dân của các quốc gia ký kết (Điều 4); các quyền đã có của công dân các quốc gia ký kết sẽ được công nhận, riêng quyền đối với đất đai sẽ được xem xét công nhận theo thủ tục tại Phụ lục Hiệp ước (Điều 6); công dân của các quốc gia ký kết có quyền bình đẳng trong vấn đề quyền sở hữu tài sản, bao gồm quyền khai khoáng tại quần đảo (Điều 7); thuế và phí sẽ chỉ được phép sử dụng cho quần đảo và sẽ chỉ thu đủ theo nhu cầu của quần đảo (Điều 8); Na Uy cam kết không xây dựng hay cho phép xây dựng căn cứ hải quyền tại quần đảo (Điều 9).

Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” và Hiệp ước Svalbard

Có thể thấy rằng điểm tương đồng lớn nhất giữa chính sách của Trung Quốc và Hiệp ước Svalbard là logic: Chủ quyền thuộc về một quốc gia, trong khi các quốc gia khác có các quyền rộng rãi đối với lãnh thổ tranh chấp. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa làm rõ những nhượng bộ của mình để trao đổi với các nước, trừ việc nước này sẵn sàng cùng thăm dò, khai thác tài nguyên (như đề xuất với Philippines gần đây). Điều này giống như việc đưa ra một đòi hỏi quá cao trong khi lại lập lờ về khả năng chi trả cho đòi hỏi đó. 

Thử so sánh với vài điểm nhượng bộ trong Hiệp ước Svalbard để xem liệu Trung Quốc có thể nhượng bộ đến mức độ nào về quyền của các quốc gia khác.

Một, Na Uy có nghĩa vụ phải đối xử bình đẳng, không phân biệt giữa công dân Na Uy và công dân các quốc gia khác. Công dân và tàu thuyền của các quốc gia ký kết có quyền bình đẳng trong khai thác hải sản và săn bắn, cũng như quyền tự do tiếp cận, ra vào các đảo. Với riêng điểm này, Trung Quốc có thể chấp nhận quyền đánh bắt cá, cùng khai thác dầu khí của các quốc gia tại Biển Đông, nhưng sẽ có hạn chế về quyền tiếp cận các đảo, nhất là các đảo bị Trung Quốc quân sự hoá.

Hai, Na Uy cam kết không xây dựng căn cứ hải quân trên Svalbard. Với các đảo nhân tạo được quân sự hóa của mình, khó có thể hình dung Trung Quốc sẽ nhượng bộ điểm này. Hoặc nếu nhượng bộ thì Trung Quốc có thể cam kết không xây dựng mới các căn cứ quân sự.

Ba, Hiệp ước Svalbard để ngõ cho tất cả mọi quốc gia tham gia theo lời mời của Pháp (Điều 10), có khả năng trong tương lai quần đảo này sẽ mở ra với tất cả các quốc gia. Theo đó, công dân, tàu thuyền của mọi quốc gia sẽ có quyền ra vào, lên quần đảo, khai thác hải sản và săn bắn tại quần đảo. Tính chất quốc tế rất cao như thế đặt ra hạn chế cho chủ quyền của Na Uy. Nếu Trung Quốc muốn kiểm soát hoàn toàn Biển Đông, đây sẽ là điều mà Trung Quốc không mong muốn, đặt biệt là nếu để ngõ cho những nước như Mỹ và đồng minh tham gia.

Bốn, trong khi Hiệp ước Svalbard có giá trị vô thời hạn, liệu Trung Quốc có chấp nhận một chủ quyền bị hạn chế mãi mãi hay không? Có thể nếu một trong 5 nước 6 bên chấp nhận một Hiệp ước Svalbard tại Biển Đông, Hiệp ước như thế sẽ có thời hạn xem xét lại. Sau thời điểm đó, câu chuyện sẽ giống với cách Trung Quốc xử lý vấn đề Hồng Kông sau 2047 khi cam kết “một quốc gia, hai chế độ” không còn ràng buộc nước này.

Mặc dù, chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” có logic giống với Hiệp ước Svalbard, câu hỏi vẫn còn đó về nội hàm và mục đích của chính sách trên. Trung Quốc hàm ý điều gì với “cùng phát triển”, có đủ nhượng bộ như trong Hiệp ước Svalbard hay không. Giả sử Trung Quốc chấp nhận nhượng bộ tất cả, có thể một hay một vài trong số bốn nước còn lại trong tranh chấp tại Biển Đông sẽ có thể bị hấp dẫn để xem xét ký một hiệp ước như thế với Trung Quốc. Đối với một số quốc gia tranh chấp chỉ kiểm soát một vài điểm đảo nhỏ tại quần đảo Trường Sa, lợi ích của việc có các quyền như Hiệp ước Svalbard là vượt trội hơn so với giữ một vài đảo nhỏ không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.

Trong khi đàm phán một điều ước với cả bốn nước tranh chấp còn lại (Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam) có thể phức tạp hơn nhiều, Trung Quốc có thể khởi đầu với một điều ước song phương với một trong bốn nước tranh chấp. Từ điều ước song phương như một “hợp đồng mẫu” đó, Trung Quốc có thể sẽ hi vọng thuyết phục ba nước còn lại tham gia dần. Trung Quốc có thể chủ động tạo một Hiệp ước Svalbard như thế, thì, về lý thuyết, cả Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam đều có thể giành quyền chủ động để làm như thế.

Xem thêm bài phỏng vấn TS. Enrico Fels, Đại học Bonn, Đức: “Biển Đông: Hiệp định Spitsbergen và kinh nghiệm châu Âu cho Việt Nam”, ngày 11.12.2016, Vietnamnet, tại đây.

Trần H. D. Minh

———————————————————

[1] Bộ Ngoại giao Trung Quốc, “Set aside dispute and pursue joint development”, không rõ ngày tháng đăng, https://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/ziliao_665539/3602_665543/3604_665547/t18023.shtml truy cập ngày 14.02.2020.

[2] Bộ Ngoại giao Hà Lan, “Treaty concerning the Archipelago of Spitsbergen, including Bear Island”, https://verdragenbank.overheid.nl/en/Verdrag/Details/004293 truy cập ngày 14.02.2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: