[147] Ngày 27.7 viết về hai ‘ngành’ luật quốc tế điều chỉnh vấn đề chiến tranh

Luật quốc tế về sử dụng vũ lực – Luật nhân đạo quốc tế – Hiệu lực của bốn Công ước Geneva về bảo vệ nạn nhân chiến tranh trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ

Nhân ngày Thương binh, liệt sĩ 27.7.2019 – ngày để tưởng nhớ những người mà phần lớn là những anh hùng đã hi sinh sinh mạng và sức khỏe của mình trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc – xin giới thiệu chung về hai ngành luật quốc tế điều chỉnh vấn đề chiến tranh (law of war): luật quốc tế về việc sử dụng vũ lực, và luật nhân đạo quốc tế. Luật quốc tế về việc sử dụng vũ lực (jus ad bellum) điều chỉnh về vấn đề tính hợp pháp của việc sử dụng vũ lực. Luật nhân đạo quốc tế, hay còn gọi là luật xung đột vũ trang (jus in bello), điều chỉnh về hành vi của các bên tham chiến trong một cuộc xung đột vũ trang, bất kể việc sử dụng vũ lực trong cuộc xung đột vũ trang đó là hợp pháp hay bất hợp pháp theo jus ad bellum.

Law of wars

  1. Luật quốc tế về việc sử dụng vũ lực

Ngành luật này chỉ gồm một số rất ít các quy định của luật quốc tế, do đó, cũng có thể khó được xem là một ngành luật thực sự. Luật quốc tế về việc sử dụng vũ lực chỉ bao gồm hai bộ phận chính: (1) nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực, và (2) các ngoại lệ của nguyên tắc trên.

Nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực là một trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, và là nguyên tắc có tầm quan trọng bậc nhất trong bảy nguyên tắc. Nguyên tắc này tồn tại trong điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, đồng thời được xem là một quy phạm mệnh lệnh bắt buộc chung (jus cogens).

Điều 2(4) Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 quy định rằng các quốc gia phải hạn chế (‘refrain’) đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực để chống lại độc lập chính sự hay toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia khác. Từ ‘hạn chế’ được hiểu là ‘cấm’ trừ những trường hợp ngoại lệ. Với việc ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc – tổ chức quốc tế mà sức mạnh quan trọng nhất là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba – phản ánh một trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trật tự thế giới này loại bỏ quyền sử dụng vũ lực của các quốc gia – một quyền đã tồn tại từ xa xưa.

Mặc dù, về nguyên tắc, việc sử dụng vũ lực là bất hợp pháp. Hiến chương Liên hợp quốc không loại trừ hoàn toàn việc sử dụng vũ lực mà cho phép có hai ngoại lệ. Ngoại lệ thứ nhất là quyền tự vệ hay quyền tự vệ chính đáng được quy định tại Điều 51 của Hiến chương. Quyền tự vệ là quyền được sử dụng vũ lực “khi bị tấn công vũ trang”. Tấn công vũ trang được hiểu là việc sử dụng vũ lực ở mức nghiêm trọng nhất, chứ không đơn thuần là sử dụng vũ lực trong các va chạm nhỏ giữa các quốc gia. Một quốc gia là nạn nhân của hành vi sử dụng vũ lực của một quốc gia khác, nhưng mức độ chưa đủ để được xem là ‘tấn công vũ trang’ thì cũng không thể kích hoạt quyền tự vệ. Quyền tự vệ chỉ tồn tại trong giai đoạn từ khi bị tấn công vũ trang cho đến khi Hội đồng Bảo an có quyết định hành động. Việc sử dụng vũ lực để tự vệ phải tuân thủ hai điều kiện về tính tương xứng (proportionality) và tính cần thiết (necessity).

Ngoại lệ thứ hai là việc sử dụng vũ lực theo sự cho phép của Hội đồng Bảo an theo Chương VII. Chương VII với tiêu đề là ‘Hành động trong trường hợp có mối đe dọa đến hòa bình, xâm phạm hòa bình, và hành vi xâm lược’. Điều 42 của Chương này cho phép Hội đồng Bảo an có quyền cho phép các quốc gia sử dụng vũ lực nếu các biện pháp phi-vũ lực không đủ để loại trừ mối đe dọa hay hành vi xâm lược. Quyền sử dụng vũ lực của Hội đồng Bảo an là cần thiết để thực thi nhiệm vụ chính yếu của mình là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng hành động tập thể. Trong các nghị quyết cho phép sử dụng vũ lực, cụm từ nổi tiếng được sử dụng là “cho phép các Quốc gia thành viên được sử dụng tất cả mọi biện pháp cần thiết…” (‘Authorize Member States to take/to use all necessary means/measures to…’).

Ngoài hai ngoại lệ trên, luật pháp quốc tế cũng được cho là cho phép sử dụng vũ lực theo lời mời hay sự đồng ý của quốc gia sở tại để hoạt động trên lãnh thổ quốc gia đó. Đây là căn cứ mà Nga sử dụng để sử dụng vũ lực trên lãnh thổ Syria trong mấy năm nay. Trước đây, một số quốc gia cũng cho rằng can thiệp nhân đạo (humanitarian intervention) cũng là một ngoại lệ sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, với sự quan ngại của đa số các quốc gia về khả năng bị lạm dụng, can thiệp nhân đạo không thể hình thành một quy định của luật quốc tế và đang dần đi vào lịch sử theo sau sự xuất hiện của khái niệm “trách nhiệm bảo vệ” (‘responsibility to protect’ hay R2P/RtoP, xem thêm post nàypost này).

Trên đây là ba quy định trung tâm của luật quốc tế về việc sử dụng vũ lực. Việc áp dụng ba quy định này sẽ xác định tính hợp pháp của một trường hợp sử dụng vũ lực.

Xem post phân tích chi tiết hơn về nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực, và quyền tự vệ chính đáng.

  1. Luật nhân đạo quốc tế

Bất kể tính hợp pháp của việc sử dụng vũ lực, trong một xung đột vũ trang, các bên tham chiến phải tiến hành chiến tranh theo cách thức phù hợp với luật nhân đạo quốc tế. Như tên gọi của ngành luật này, các quy định của luật nhân đạo quốc tế hướng đến ‘nhân đạo hóa’ các cuộc chiến tranh, làm cho các cuộc chiến tranh ít tàn khốc và hủy hoại. Hai bộ phận chính của luật nhân đạo quốc tế: một bộ phận điều chỉnh hành vi chiến tranh, một bộ phân khác điều chỉnh vũ khí và phương pháp chiến tranh. Phần dưới đây chỉ xin giới thiệu bộ phân thứ nhất của ngành luật này.

Các quy định của ngành luật này tồn tại trong điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. Nổi tiếng nhất và là nền tảng của ngành luật này là bốn Công ước Geneva năm 1949:

  • Công ước Geneva I về đối xử với thương, bệnh binh trong chiến tranh trên bộ (bản gốc tiếng Anh), yêu cầu đối xử nhân đạo với những người này, không phân biệt đối xử, không được phép tra tấn, thử nghiệm sinh học, từ chối cung cấp chăm sóc y tế, hay giết hại.
  • Công ước Geneva II về bảo vệ thương, bệnh binh, và lính bị đắm tàu trong chiến tranh trên biển (bản gốc tiếng Anh), yêu cầu đối xử nhân đạo với những người này, không phân biệt đối xử, không được phép tra tấn, thử nghiệm sinh học, từ chối cung cấp chăm sóc y tế, hay giết hại.
  • Công ước Geneva III về đối xử với tù binh chiến tranh (bản gốc tiếng Anh), yêu cầu đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh tương tự như Công ước Geneva I và II, kèm theo quy định không được phép tra tấn tinh thần và thể xác hay có hành vi vũ lực để lấy thông tin từ tù binh chiến tranh.
  • Công ước Geneva IV về bảo vệ dân thường (bản gốc tiếng Anh), mà vi phạm nghiêm trọng bị nghiêm cấm bao gồm: tàn sát, tra tấn, đối xử phi nhân đạo, di dân bất hợp pháp, cưỡng ép tuyển quân, tước bỏ quyền xét xử công bằng… dân thường.

Có thể thấy mục đích rất rõ ràng của bốn Công ước Geneva là bảo vệ những người không còn dính líu đến hoạt động chiến tranh, bao gồm binh lính của các bên tham chiến nhưng không còn khả năng tham chiến (thương binh, bệnh binh, lính của một bên tham chiến bị bên kia bắt giữ) và dân thường.

  1. Hiệu lực của bốn Công ước Geneva năm 1949 trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ

3.1. Các bên tham chiến và tình hình phê chuẩn

Pháp phê chuẩn gia nhập bốn Công ước Geneva vào ngày 28.6.1951, và bốn Công ước có hiệu lực với Pháp sáu tháng sau đó, tức là ngày 28.12.1951.

Mỹ phê chuẩn gia nhập bốn Công ước vào ngày 02.8.1955, và sáu tháng sau đó, vào ngày 02.02.1956 bốn Công ước có hiệu lực với Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ có bảo lưu một số quy định, trong đó có:

Bảo lưu Điều 68 của Công ước Geneva thứ tư về Bảo vệ dân thường. Điều 68 quy định Lực lượng chiếm đóng chỉ có thể áp dụng án tử hình với dân thường với các tội danh mà luật pháp của vùng lãnh thổ chiếm đóng có quy định mức án tử hình trước khi bị chiếm đóng. Mỹ bảo lưu điều kiện “trước khi bị chiếm đóng”, theo đó, Mỹ không cần quan tâm luật pháp của vùng lãnh thổ chiếm đóng có hay không có quy định án tử hình với một tội danh mà Mỹ muốn xử tử một dân thường.

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phê chuẩn gia nhập bốn Công ước Geneva năm 1949 vào ngày 28.6.1957, và sáu tháng sau đó, ngày 28.12.1957 bốn Công ước Geneva bắt đầu có hiệu lực với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có các bảo lưu liên quan đến Điều 10 của Công ước Geneva I và II; Điều 4, 10, 12 và 85 của Công ước Geneva III; và Điều 11 và 45 của Công ước Geneva IV. Riêng Điều 4 của Công ước Geneva III, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo lưu thay cho Chính phủ cách mạnh lâm thời Miền Nam Việt Nam. Cụ thể là:

“Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam không công nhận quy định ở khoản 2 của Điều 4 liên quan đến thành viên của các lực lượng quân sự và các nhóm tình nguyện khác, bao gồm các phong trào phản kháng có tổ chức, bởi vì các quy định này không áp dụng vào các cuộc chiến tranh nhân dân trong thế giới đương đại.”

Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam gia nhập bốn Công ước Geneva năm 1949 vào ngày 03.12.1974, và sáu tháng sau đó, ngày 03.6.1975, bốn Công ước Geneva bắt đầu có hiệu lực với Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam. Hành động gia nhập này không có ghi nhận trong United Nations Treaties Series của Liên hợp quốc.[1] Chính phủ cách mạng lâm thời có các bảo lưu tương tự như của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1957. Riêng Điều 4 của Công ước Geneva III, bảo lưu được nêu rõ ra là Chính phủ cách mạng lâm thời không phản đối toàn bộ quy định của Khoản 2, Điều 4 mà chỉ phản đối “các điều kiện” để Công ước cũng áp dụng đối với thành viên của các lực lượng vũ trang và tự nguyện, bao gồm các phong trào phản kháng có tổ chức bởi vì “các điều kiện” này không áp dụng trong chiến tranh nhân dân. Các điều kiện được nhắc đến bao gồm 04 điều kiện cụ thể sau:

Các lực lượng vũ trang, nhóm tự nguyên, phong trào phản kháng có tổ chức được bảo vệ theo Công ước về Tù binh chiến tranh cần: (1) có chỉ huy chịu trách nhiệm với cấp dưới, (2) có dấu hiệu nhận diện riêng biệt có thể phân biệt được từ xa, (3) phải mang vũ khí công khai, và (4) phải hoạt động phù hợp với các quy định và tập quán chiến tranh.

Có vẻ bảo lưu này được đưa ra vì hoạt động du kích và nằm vùng trong Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ không thể thoả mãn điều kiện thứ 2 và 3. Các điều kiện này rõ ràng không phù hợp với chiến tranh nhân dân, do loại bỏ khỏi sự bảo vệ của Công ước một nhóm người tham chiến.

Việc gia nhập của Chính phủ cách mạng lâm vào bốn Công ước Geneva năm 1949 bị Mỹ phản đối vì Mỹ chỉ công nhận Việt Nam Cộng hoà và các bảo lưu này vi phạm mục đích và đối tượng của các Công ước, nhưng được Hungary ủng hộ.[2]

3.2. Hiệu lực đối với các bên tham chiến

Trong Kháng chiến chống Pháp (đến năm 1954), chỉ có Pháp phê chuẩn bốn Công ước Geneva, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa phê chuẩn cho đến tận năm 1957. Như vậy, về nguyên tắc, Công ước không áp dụng trong cuộc kháng chiến này, trừ khi phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng chấp nhận và áp dụng các quy định của bốn Công ước. Điều 2 chung của bốn Công ước Geneva có quy định giống nhau rằng:

“Mặc dù một bên trong các Bên tham chiến không là thành viên của Công ước thì Công ước vẫn áp dụng trong quan hệ giữa các Bên là thành viên. Các bên tham chiến cũng chịu ràng buộc trong quan hệ với Bên không là thành viên, nếu Bên không là thành viên chấp nhận và áp dụng các quy định của Công ước.”

Cần có nghiên cứu thêm để có bằng chứng cho câu hỏi liệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có “chấp nhận và áp dụng” quy định của Công ước hay không. Nếu có, thì cả Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chịu ràng buộc và phải hành xử theo quy định nhân đạo của bốn Công ước. Nếu không thì các bên sẽ hành xử theo các quy định tập quán về chiến tranh tại thời điểm đó.

Trong Kháng chiến chống Mỹ (đến năm 1973), Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ đều là thành viên của bốn Công ước từ ngày 28.12.1957 khi bốn Công ước có hiệu lực với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Giai đoạn giữa từ ngày 02.02.1956 khi bốn Công ước có hiệu lực với Mỹ nhưng chưa có hiệu lực với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì kết luận phụ thuộc vào liệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có “chấp nhận và áp dụng” bốn Công ước hay không – lập luận tương tự như giai đoạn Kháng chiến chống Pháp nêu trên.

Tuy nhiên, điểm đặc biệt trong giai đoạn Kháng chiến chống Mỹ là sự có mặt của Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà. Do đó, tuỳ từng hoàn cảnh và vụ việc mà cần xem xét kỹ càng hơn khi liên quan đến một hay cả hai bên này.

Trần H. D. Minh

—————————————————————

[1] Thông tin về quốc gia thành viên của: Công ước Geneva thứ nhất (https://treaties.un.org/Pages/showDetails.aspx?objid=080000028015847c), Công ước Geneva thứ hai (https://treaties.un.org/Pages/showDetails.aspx?objid=08000002801591b0), Công ước Geneva thứ ba (https://treaties.un.org/Pages/showDetails.aspx?objid=0800000280159839), Công ước Geneva thứ tư (https://treaties.un.org/Pages/showDetails.aspx?objid=0800000280158b1a).

[2] (1975) 972 UNTS, https://treaties.un.org/doc/Publication/UNTS/Volume%20972/v972.pdf, 402-403.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: