[145] Vụ việc tàu Hải Dương 8: Các bước đi bài bản của Việt Nam, và tiếp theo?

Các bước đối ngoại rất bài bản của Việt Nam – Các bước đi có thể tiếp theo: Diễn đàn đa phương và Lời mời giải quyết bằng trọng tài? – Hàm lượng kim hay sức nặng của lời mời trọng tài?

Trong những ngày qua, trên báo chí đại chúng đồng loạt có bài viết lên án hành vi của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam qua việc tàu Hải Dương 8 của nước này tiến hành hoạt động ở Bãi Tư Chính nằm ở phía nam Biển Đông. Bài viết có vẻ là đầu tiên cung cấp thông tin khá đầy đủ về vụ việc bằng tiếng Việt là bài viết này trên trang Đại sử ký Biển Đông của Phạm Ngọc Minh Trang, giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh.

Cho đến hôm nay (ngày 22.7.2019), Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có hai lần cung cấp thông tin chính thức về quan điểm của Việt Nam đối với vụ việc này. Trong phát biểu vào ngày 16.7.2019, Người phát ngôn khẳng định “mọi hoạt động của nước ngoài” là vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật quốc tế và Công ước Luật Biển năm 1982 nếu không có sự cho phép của Việt Nam. Ngày 19.7.2019, Người phát ngôn chỉ đích danh Trung Quốc và nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 là đối tượng vi phạm được nêu trong phát biểu ba ngày trước đó. Người phát ngôn còn cung cấp thêm thông tin rằng:

“Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao đổi công hàm phản đối.”

NPN

Từ hai phát ngôn trên cũng như thông tin trên báo chí đại chúng có thể khẳng định hai điểm: (1) Trung Quốc đã có hành vi vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, và (2) Việt Nam đã có các bước đi bài bản để xử lý vụ việc này.

Bài viết này không phân tích thêm về tính chất vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có quy định của UNCLOS, mà chỉ xem xét đến điểm thứ hai: các bước đi để xử lý vụ việc tàu Hải Dương 8 (và chỉ tập trung vào bước đi ngoại giao-pháp lý, không xem xét đến khía cạnh quân sự hay đấu tranh trên thực địa).

Cho đến hiện nay, các bước đi ngoại giao của Việt Nam có tính chất bài bản

Vì sao lại nói rằng Việt Nam đang xử lý theo các bước đi bài bản vụ việc tàu Hải Dương 8? Tính chất bài bản thể hiện ở hai điểm. Thứ nhất, Việt Nam đã tiến hành trao đổi bí mật, trực tiếp với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau và có công hàm phản đối. Việt Nam rất kiên nhẫn và thiện chí khi cố gắng dành khoảng 2 tuần để trao đổi trực tiếp với Trung Quốc. Điều này lý giải vì sao thông tin về vụ việc này và phát ngôn của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao lại có tính trễ hơn so với thực tế diễn ra và thông tin từ các nguồn bên ngoài. Chỉ sau khi, các trao đổi trực tiếp, bí mật với Trung Quốc không cho thấy hiệu quả, Việt Nam đã công khai hoá vụ việc này.

Thứ hai, việc công khai hoá vụ việc cũng thể hiện tính bài bản và thiện chí vì phát ngôn đầu tiên vào ngày 16.7.2019 chỉ nhắc đến “mọi hoạt động của nước ngoài” mà không chỉ đích danh bất kỳ quốc gia nào cũng như nhắc đến tàu Hải Dương 8. Sau đó, ba ngày, Trung Quốc không có phản ứng thiện chí, Việt Nam mới có phát ngôn thứ hai chỉ đích danh Trung Quốc và hành vi của tàu Hải Dương 8.

Như vậy, phản ứng của Việt Nam là rất bài bản, từ trao đổi trực tiếp, bí mật đến công khai hoá vụ việc, từ công khai không chỉ đích danh đến công khai chỉ đích danh. Việc xử lý vụ việc và cách ứng xử của Việt Nam thể hiện rõ ràng, về ngoại giao, sự thiện chí, chuẩn mực, có trách nhiệm, chính chắn và rất “quân tử”. Điều này đặt Việt Nam ở vị thế chính nghĩa trên trường quốc tế về đối ngoại, và về đối nội, ngành ngoại giao Việt Nam đã một lần nữa thể hiện rõ bản lĩnh và trí tuệ của mình. Mục đích cao nhất của sự thiện chí và kim chỉ nam cho cách ứng xử trên là cố gắng bảo đảm môi trường hoà bình, ổn định trong khu vực và quốc tế phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

Các bước đi tiếp theo là gì?

Cho đến hiện nay Việt Nam đã tiến hành đến bước công khai hoá và chỉ đích danh Trung Quốc. Bên cạnh việc tiếp tục, không ngắt quãng các kênh đối thoại trực tiếp với Trung Quốc, bước đi tiếp theo có thể là đưa vụ việc ra các diễn đàn quốc tế (từ kinh nghiệm sự kiện tàu Hải Dương 981 năm 2014) và có lời gợi ý khởi động một vụ kiện trọng tài để giải quyết vụ việc này (theo kinh nghiệm của Vụ kiện Biển Đông năm 2013 của Philippines).

Trong sự kiện tàu Hải Dương 981 năm 2014, Việt Nam đã triển khai đấu tranh ngoại giao trên các diễn đàn đa phương quốc tế, đặc biệt là cho lưu hành tại Liên hợp quốc các công hàm cung cấp tài liệu, thông tin và quan điểm của Việt Nam cho các quốc gia là thành viên Liên hợp quốc. Điều này giúp thế giới hiểu hơn về bản chất hành vi của Trung Quốc. Ở sự kiện tàu Hải Dương 8, hành động tương tự cũng có thể được tiến hành, đồng thời với việc mang vụ việc ra diễn đàn ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thành công khi Mỹ đã có tuyên bố lên án hành vi của Trung Quốc.

Bước đi thứ hai có thể nghĩ đến là đưa vào trong các trao đổi với Trung Quốc lời mời mang vụ việc ra xử lý tại một toà trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Luật Biển năm 1982. Có thể phía Trung Quốc cho rằng “lời mời” này thực chất là một “lời đe doạ” sử dụng biện pháp pháp lý. Qua Vụ kiện Biển Đông, có thể thấy rõ là Trung Quốc không thích và không muốn dính dáng đến một vụ kiện nào nữa. Phản ứng của Trung Quốc, theo đó, là khó lường. Nếu Trung Quốc tiếp nhận lời mời như một lời đe doạ, thì liệu lời đe doạ đó có đủ sức nặng về mặt pháp lý?

Lưu ý rằng để khởi kiện một vụ việc như Vụ kiện Biển Đông, các quốc gia cần tính toán nhiều yếu tố hơn chỉ xem xét yếu tố pháp lý, ví dụ như tác động của một vụ kiện như thế đến quan hệ kinh tế giữa hai nước. Mà trong sự kiện tàu Hải Dương 8 này, ngoài quan hệ kinh tế, bối cảnh vụ việc còn phức tạp hơn vì năm 2020 Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN và uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Để đảm nhận thành công hai vai trò này cần rất nhiều sự phối hợp, hợp tác và ủng hộ của các quốc gia, chứ không chỉ phụ thuộc vào Việt Nam. Bên trong nước, năm 2019 là năm thứ tư thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, toàn Đảng và Nhân dân đang tập trung trí tuệ và nỗ lực lao động để hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt ra từ đầu nhiệm kỳ và chuẩn bị cơ sở vững chắc cho nhiệm kỳ tiếp theo. Do đó, bài toán khởi kiện sẽ có rất nhiều biến số, khiến cho việc khởi kiện cần xem xét đặc biệt cẩn trọng, với các tính toán bài bản, không cho phép sai lầm và phải quyết định dựa trên trí tuệ và trách nhiệm của cả tập thể. Nhận định này cũng đúng với bước đi đa phương nêu trên.

Hàm lượng kim hay sức nặng của một lời mời giải quyết bằng trọng tài

Để lời mời tham gia vụ kiện trọng tài có sức nặng, câu hỏi đặt ra hiện tại là liệu toà trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS có thẩm quyền xử lý vụ việc tàu Hải Dương 8 hay không? Câu hỏi này rất phức tạp về mặt pháp lý và cần bằng chứng đầy đủ hơn, do đó, dưới đây là các nhận định rất sơ bộ, và tính chính xác còn phụ thuộc nhiều vào các phân tích chuyên sâu với các bằng chứng đầy đủ hơn.

Để toà trọng tài có thẩm quyền, cần thoả mãn các điều kiện sau (xem thêm bài Cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS):

  • Sự việc tàu Hải Dương 8 có phải là một tranh chấp về giải thích và áp dụng Công ước?
  • Việt Nam đã thoả mãn điều kiện về trao đổi quan điểm theo Điều 283?
  • Liệu giữa Việt Nam và Trung Quốc có bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp có tính chất tài phán, pháp lý tương tự như UNCLOS hay không?
  • Liệu Việt Nam và Trung Quốc có thoả thuận loại trừ biện pháp tài phán bắt buộc theo UNCLOS?
  • Liệu sự việc tàu Hải Dương 8 có thuộc trường hợp ngoại lệ theo Điều 297 và 298?

Hai điều kiện đầu tiên đã thoả mãn trong vụ việc này. Các phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho thấy rõ ràng sự tồn tại tranh chấp về giải thích, áp dụng Công ước, cụ thể liên quan đến quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (xem thêm định nghĩa “tranh chấp” trong luật quốc tế). Mặc dù không nêu rõ điều khoản của Công ước, khó có thể phủ nhận rằng Việt Nam và Trung Quốc đều hiểu có tranh chấp về các điều khoản liên quan đến quy chế pháp lý của hai vùng biển này theo UNCLOS. Điều kiện trao đổi quan điểm theo Điều 283 cũng thoả mãn vì như Việt Nam sẽ có đủ bằng chứng về việc trao đổi qua nhiều kênh khác nhau và có công hàm phản đối Trung Quốc, và Trung Quốc cũng đã có phát ngôn về vụ việc này.

Về điều kiện thứ ba, nếu theo kinh nghiệm của Vụ kiện Biển Đông, điều kiện này cũng thoả mãn. Có vẻ Việt Nam không ký thêm bất kỳ điều ước quốc tế nào với Trung Quốc mà có cơ chế giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tài phán bắt buộc tương tự như UNCLOS.

Điều kiện thứ tư thì có vẻ cũng thoả mãn, vì theo phán quyết của Toà trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông, để có thể loại trừ biện pháp tài phán bắt buộc theo UNCLOS, các bên cần có thoả thuận ghi nhận rõ ràng việc loại trừ. Theo thông tin hiện có, dù quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đặc biệt hơn so với quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines, nhưng không có vẻ có thoả thuận như thế giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bản thân cam kết kiên trì giải quyết thông qua “hiệp thương hữu nghị” trong Thoả thuận về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển năm 2011 giữa Việt Nam và Trung Quốc chưa đủ để có giá trị loại trừ biện pháp tài phán bắt buộc.

Điều kiện thứ năm cần xem xét riêng ngoại lệ theo Điều 297 và Điều 298. Ngoại lệ theo Điều 297(2) cho phép quốc gia ven biển không bị buộc phải giải quyết tranh chấp về nghiên cứu khoa học biển bằng các biện pháp tài phán bắt buộc (tàu khảo sát Hải Dương 8 có thể hoặc đang khảo sát để thăm dò dầu khí, hoặc đang khảo sát để nghiên cứu khoa học biển). Ngoại lệ này không thể áp dụng vì Việt Nam là quốc gia ven biển duy nhất trong vụ việc này, nếu Việt Nam chấp nhận khởi kiện thì vụ việc không thể bị loại trừ. Trung Quốc không có cơ sở pháp lý đủ mạnh để cho rằng mình cũng là quốc gia ven biển vì như phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã khẳng định vùng biển của Trung Quốc không thể dựa vào đường chín đoạn (xem thêm post này), và khu vực liên quan nằm quá xa phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc.

Về ngoại lệ ở Điều 298, ngoại lệ này cũng khó có cơ sở áp dụng nếu áp dụng tương tự phán quyết trong Vụ kiện Biển Đông. Theo đó, vụ việc này không thể xem là tranh chấp phân định biển vì vùng biển của Trung Quốc không thể kéo dài và chồng lấn lên vùng biển của Việt Nam ở khu vực mà tàu Hải Dương 8 đang hoạt động. Trung Quốc không thể nói rằng vụ việc là tranh chấp về danh nghĩa lịch sử vì Toà trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông đã xác định Trung Quốc chưa từng có yêu sách danh nghĩa lịch sử mà chỉ yêu sách một số quyền lịch sử trên Biển Đông mà thôi (xem thêm post này). Hơn nữa, ngày 17.7.2019, Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng khẳng định vụ việc này chỉ liên quan đến “quyền chủ quyền và quyền tài phán” của Trung Quốc, không hề nhắc đến chủ quyền lịch sử hay danh nghĩa lịch sử. Ngoài ra, Điều 298 cũng còn cho phép ngoại lệ về hoạt động quân sự. Với thông tin hiện nay, chưa có dấu hiện cho thấy hoạt động của tàu Hải Dương 8 là hoạt động quân sự, dù không thể loại trừ vụ việc bị “quân sự hoá” như một thủ thuật để viện dẫn ngoại lệ này (lưu ý rằng nội hàm của “hoạt động quân sự” vẫn là vấn đề còn tranh cãi, xem thêm ở đây).

Điều đặc biệt lưu ý là đối với các nhận định trên đây dựa vào kết luận của Toà trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông, cần xem xét cẩn trọng hơn. Bởi vì phán quyết này chỉ có giá trị ràng buộc pháp lý giữa Trung Quốc và Philippines, và không loại trừ toà trọng tài mới sẽ có kết luận khác với kết luận của Toà trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông, dù không dễ.

Như vậy, kết luận sơ bộ có thể đưa ra là một lời mời tham gia một vụ kiện trọng tài của Việt Nam là có sức nặng pháp lý, không chỉ là “lời nói xuông” vô hại, có thể phớt lờ. Đương nhiên, nếu có thể không khởi kiện mà vẫn giải quyết vấn đề thì không cần thiết phải tốn nguồn lực không nhỏ để theo đuổi một vụ kiện “đắt giá” ở nhiều khía cạnh pháp lý và phi-pháp lý.

Trần H. D. Minh

English summary: Recently the activities of Haiyang Dizhi 8 – a Chinese ‘survey ship’ – in the EEZ and continental shelf of Vietnam on the southern part of the South China Sea has lead to heated exchange of words between Vietnam and China. it should be noted that the location is far from any possible EEZ and continental shelf of China. The way Vietnam has dealt with the incident so far indicates that it has acted in the very spirit of good faith and as a responsible country. First, it addressed the incident directly and confidentially with China for about 2 weeks since the ship started to conduct its activities in early July 2019. Failing the cooperative act from the Chinese side, the Vietnamese MOFA delivered a statement on 16 July 2019 which did not refer directly to China or Haiyang Dizhi 8, with the hope that China would re-consider its illegal activities. And, again, only failing any good faith act from the Chinese side, three days after the first statement, on 19 July 2019, Vietnamese MOFA delivered another statement naming direct China and the activities of Haiyang Dizhi 8. It is clear that Vietnam has offered China every chance to withdraw its ship and talk.

(*) Nguồn ảnh: Hà Dũng, ‘Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói về sức khoẻ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 25.4.2019, http://baophapluat.vn/trong-nuoc/nguoi-phat-ngon-bo-ngoai-giao-noi-ve-suc-khoe-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-nguyen-phu-trong-449761.html, truy cập ngày 21.7.2019.

——————————————————————

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: