[124] Vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua (Nicaragua vs Hoa Kỳ) (1984-1986) [Phần 1: Thẩm quyền]

Năm 1986, ICJ, Toà án công lý quốc tế được thành lập bởi Liên hợp quốc, ra một phán quyết mang tính chấn động trong cộng đồng quốc tế. Toà tuyên bố Mỹ thất bại hoàn toàn trong vụ kiện với Nicaragua. Phán quyết mang tính chất lịch sử không những trong sự phát triển của luật quốc tế mà còn cả trong quan hệ quốc tế.

Có ít nhất 3 lý do cho cho điều này:

  1. Vụ kiện liên quan trực tiếp đến 1 vấn đề hết sức nhạy cảm đó là việc sử dụng vũ lực và can thiệp vũ lực vào một quốc gia có chủ quyền.
  2. Toà án khẳng định một cách công khai hành động sai trái của một cường quốc khi sử dụng vũ lực can thiệp vào một quốc gia nhỏ, nằm trong vùng ảnh hưởng của cường quốc này. Điều này chỉ xảy ra ở một toà án công lý, chứ không thể xảy ra trong các biện pháp chính trị giải quyết tranh chấp.
  3. Phán quyết của Toà cực kỳ chi tiết với các phân tích hết sức cẩn thận. Đây là một trong những phán quyết đồ sộ và hợp lý nhất của ICJ từng đưa ra.

Trong Phần 1, bài viết nói về các tranh luận về thẩm quyền của ICJ, khi mà Mỹ đưa ra rất nhiều lý do cho rằng ICJ không có thẩm quyền xét xử vụ việc này. Tuy nhiên, tất cả mọi lập luận của Mỹ đều bị Toà bác bỏ.

4df51833-6799-45c8-aaaa-197ea53a3eb6

Lược dịch từ bài viết của Robert Kold, in trong Cameron Miles & Eirik Bjorge, Landmark Cases in Public International Law, Hart Publishing (2017).

Lưu ý đây là bài bình luận phán quyết, do đó, có chứa đựng các đánh giá cá nhân của Robert Kold. 

  1. GIỚI THIỆU CHUNG

Phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v United States of America) (tạm dịch: Vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự diễn ra tại Nicaragua và chống lại Nicaragua, gọi tắt là vụ Nicaragua) diễn ra vào giữa những năm 1980, là một trong những phán quyết quan trọng nhất từng được Tòa công bố. Có ít nhất ba lý do cho điều này:

  1. Lần đầu tiên, câu hỏi về việc sử dụng vũ lực và gây hấn đã được đặt ra trước Tòa và được xem xét một cách kĩ càng nhất. Vấn đề này rất quan trọng về chính trị và cả về pháp lý. Điều này từng được nằm trong phạm vi, mà trong thời gian đó, có vẻ như không phù hợp để đưa ra xét xử (de maximis non curat praetor)
  2. Tranh chấp liên quan đến mối quan hệ giữa một cường quốc (một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an của các quốc gia thống nhất) với một nước nhỏ nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của cường quốc kia. Cuối cùng thì, cường quốc này đã bị kết án là đã có các hành vi sai trái. Điều này chỉ có thể xảy ra tại một toà án của công lý, chứ không thể nằm trong các kế hoạch giải quyết tranh chấp về mặt chính trị.
  3. Cuối cùng, các phán quyết nổi bật về phạm vi và rất chi tiết. Tòa án đã xử lý một loạt các câu hỏi của luật pháp quốc tế một cách hết sức cẩn thận, đặt vụ Nicaragua vào mức độ phân tích dày đặc và hợp lý nhất mà Tòa từng ban hành.

Bản gốc Phán quyết bằng tiếng Anh, và xem thêm tóm tắt phán quyết của Ban thư ký Toà.

  1. BỐI CẢNH CUỘC TRANH CHẤP

Dưới góc nhìn của Nicaragua với vai trò là bên đưa đơn khởi kiện hay nguyên đơn, bối cảnh tranh chấp được cho là bắt nguồn từ các chính sách can thiệp thường xuyên của Hoa Kỳ đối với khu vực Trung Mỹ, đặc biệt là sự can thiệp chống cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, theo như “Học thuyết Reagan”. Theo Nicaragua, thông qua Cơ quan tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), Hoa Kỳ đã can thiệp một cách bất hợp pháp vào lãnh thổ của Nicaragua nhằm lật đổ chính phủ mà Hoa Kỳ cho là không phù hợp.

Về phía Hoa Kỳ với tư cách là bị đơn, tranh chấp bắt nguồn từ sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Trung Mỹ đã làm các chính phủ đồng minh của Mỹ lâm vào tình trạng bất ổn bằng các hành động lật đổ và can thiệp. Chính sách can thiệp lâu đời tại Trung Mỹ thực chất chỉ với mục đích bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ, công dân Hoa Kỳ và bảo vệ các chính quyền thân thiện với Hoa Kỳ (được đề xuất từ trong chính sách đối ngoại của Tổng thống James Monroe và Tổng thống Theodore Roosevelt) mà trọng tâm là bảo vệ thế giới tự do khỏi sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. Đồng thời, Hoa Kỳ lập luận rằng chính Nicaragua đã can thiệp bằng vũ lực ở El Salvador thông qua các cuộc tấn công xuyên biên giới với mục đích cung cấp hỗ trợ cho phiến quân cộng sản hoạt động tại quốc gia này. Trong điều trần của mình, Mỹ cho rằng Mỹ đang thực hiện quyền tự vệ tập thể (collective self-defence), thay mặt cho El Salvador.

Lịch sử của Nicaragua tại thời điểm đó bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự bất ổn chính trị dai dẳng cũng như sự can thiệp của Mỹ. Năm 1909, Ngoại trưởng Hoa Kỳ PC Knox đã bảo hộ một nhóm người bảo thủ Nicaragua trong cuộc chiến chống lại Tổng thống José Santos Zelaya. Ông Tổng thống này đã bị buộc phải từ chức, và được kế nhiệm bởi Bộ trưởng Ngoại giao của ông, José Madriz, người sau đó đã được thay thế thông qua một cuộc bạo động thành công do Tướng Juan Estrada tiến hành với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Chế độ mới được thành lập ưu tiên tuân theo các chính sách của Hoa Kỳ được chuyển tải bởi Thomas Dawson, một ủy viên đặc biệt, người trước đây đã giám sát sự can thiệp của Mỹ vào Cộng hòa Dominica. Vào năm 1912, các cuộc nổi dậy của địa phương chống chính quyền mới thành lập xuất hiện, dẫn đến việc bổ nhiệm các thủy quân lục chiến Mỹ, những người đã thiết lập sự kiểm soát chính trị và tài chính chặt chẽ đối với Nicaragua. Năm 1914, Hoa Kỳ và Nicaragua đã ký Hiệp ước Bryan Chamorro, trao cho Hoa Kỳ quyền xây dựng một kênh đào xuyên đại dương qua lãnh thổ Nicaragua bằng sông San Juan.

Với một chính phủ ổn định, thân thiện ở Nicaragua, thủy quân lục chiến Mỹ đã rút khỏi đất nước này vào năm 1925, nhưng họ đã trở lại vào năm 1929 do sự kháng cự của Nicaragua đối với một số mục tiêu của Hoa Kỳ trong khu vực. Bây giờ Hoa Kỳ ủng hộ cho một cuộc nổi dậy chống lại chính phủ, dẫn đến sự chiếm đoạt quyền lực của tướng Anastasio Somoza Garcia vào năm 1937, mở ra một giai đoạn thống trị kéo dài đến năm 1979. Gia đình Somoza là đồng minh trực tiếp của Hoa Kỳ và thậm chí giữ vai trò là cảnh sát ủy nhiệm ở Trung Mỹ, mặc cho sự xuống dốc của chế độ độc tài cuối cùng cũng dẫn đến sự phản đối và nổi dậy. Phong trào này đã mang lại sức mạnh cho Mặt trận giải phóng dân tộc Sandinista (dưới danh nghĩa Junta de Gobierno de Reconstrucción Nacional) và Tổng thống Daniel Ortega. Sau giai đoạn hợp tác ban đầu với chính quyền của tổng thống Hoa Kỳ James Carter, quan hệ Nicaragua – Hoa Kỳ đã xấu đi một cách rõ ràng dưới thời Tổng thống Ronald Reagan. Do đó, sự chia tách giữa Cộng sản và Thế giới tự do cùng với hệ thống chiến tranh ủy nhiệm của chính sách này đã được khởi xướng.

III. NỘI DUNG CỦA PHÁN QUYẾT VỀ THẨM QUYỀN

Sẽ rất có ích cho chúng ta khi ghi lại những luận điểm chính mà Tòa án đã đưa ra. Vụ kiện này dựa trên việc Nicaragua khiếu nại Hoa Kỳ đối với tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của Hoa Kỳ trong hoạt động quân sự và bán quân sự trực tiếp lên Nicaragua thông qua CIA hoặc thông qua viện trợ gián tiếp cho các nhóm đối lập (gọi là contras). Nicaragua lập luận rằng Toà có thẩm quyền theo

  • điều 36(2) Quy chế ICJ (quy định về sự lựa chọn của các quốc gia chấp nhận thẩm quyền bắt buộc của ICJ trong các tranh chấp của mình, trước đây cả Hoa Kỳ và Nicaragua đều đã từng tuyên bố công nhận thẩm quyền của ICJ, vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn vào phần sau).
  • Điều 36(1) của Quy chế ICJ (quy định thẩm quyền của ICJ có thể giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hiệp ước quốc tế khác, mà Nicaragua đưa ra trong vụ kiện này là Hiệp ước hữu nghị, thương mại và đi lại (Hiệp ước FCN).
  1. Những thủ tục tố tụng phát sinh

Có hai thủ tục tố tụng phát sinh. Đầu tiên, theo Điều 41 của Quy chế, Tòa đã đưa ra Biện pháp bảo vệ tạm thời (provisional measure of protection) bằng Quyết định ngày 10 tháng 5 năm 1984, Toà yêu cầu Hoa Kỳ ngưng khai thác và phá hoại cảng Nicaragua, đồng thời tôn trọng chủ quyền cũng như độc lập của Nicaragua. Quyết định này còn buộc cả 2 phải có nghĩa vụ không làm trầm trọng thêm tranh chấp. Ở một mức độ nào đó, việc Toà đưa ra các quyết định của mình trong phiên các Biện pháp bảo vệ tạm thời giúp chúng ta đoán trước được kết quả của vụ kiện về mặt nội dung, đây cũng là phần trọng tâm của vụ kiện này. Mặt khác, cũng khó có thể tách biệt được hoàn toàn nội dung của phiên Biện pháp bảo vệ tạm thời với kết quả cuối cùng của vụ kiện vì một số vấn đề liên quan đến các thiệt hại không thể khắc phục được do các hoạt động của tranh chấp được đưa ra và xem xét trong cả hai phiên.

Quyền tài phán Tòa được trong phiên Các biện pháp tạm thời phát triển theo hướng mà ở một mức độ nào đó cũng có trọng lượng như là các quyền được nêu ra trong phiên nội dung. Cũng cần lưu ý rằng những lời chỉ trích cho rằng Tòa đáng lẽ phải đưa ra biện pháp cho cả hai bên tranh chấp là không có cơ sở. Tòa thực sự nói rằng cả hai bên phải kiềm chế những hành động làm trầm trọng thêm tranh chấp và làm ảnh hưởng các quyền đang bị đe dọa (của cả hai bên). Mặt khác, Tòa chỉ thúc giục Hoa Kỳ không can thiệp vào Nicaragua. Nếu Hoa Kỳ đã yêu cầu các biện pháp tạm thời chống lại hành động của những người Nicaragua ở Salvador, thì lẽ ra họ đã yêu cầu các biện pháp tạm thời này.

Thứ hai, trong Quyết định vào ngày 4 tháng 10 năm 1984, Toà đã bác bỏ yêu cầu can thiệp của Salvador theo Điều 63 của Quy chế. Quyết định này đã bị chỉ trích rất nhiều, một trong số đó cho rằng Toà có dấu hiệu thiên vị. Có rất nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề El Savador có đủ tư cách để tham gia vào vụ kiện hay không. Nhưng thực tế là yêu cầu can thiệp được thể hiện rất mơ hồ rằng nó hầu như không đáp ứng được các yêu cầu về thủ tục để được chấp nhận theo Điều 82 trong Quy tắc làm việc của Tòa.

Hơn nữa, sự can thiệp của bên thứ ba này lại liên quan đến các tranh chấp của một công ước đa phương mà ở giai đoạn đầu này Toa chưa thể khẳng định thẩm quyền của mình cho cả vụ kiện. Việc Toà chưa thể khẳng định thẩm quyền này là do Tuyên bố Vandenberg của Hoa Kỳ, trong đó có chưa đựng phần bảo lưu của Hoa Kỳ đối với thẩm quyền của Toà trong các tranh chấp liên quan đến các hiệp ước đa phương.

Cuối cùng, cần phải lưu ý rằng việc can thiệp của bên thứ ba vào quá trình tố tụng quy định tại điều 63 là để giải thích các hiệp ước đa phương ở phiên nội dung, chứ không phải để tham gia vào việc tranh luận rằng Toà không có thẩm quyền, nhất là khi việc can thiệp này lại được che đậy bằng lập luận rằng đây là một hành vi xác đáng để có thể diễn giải rõ hơn các điều khoản trong Quy chế của ICJ. Toà cho rằng, trong tất cả các trường hợp kiện tụng, Toà đều đảm bảo rằng việc diễn giải quy chế là thống nhất và mang tính bắt buộc chung lên tất cả các thành viên của Quy chế và vì chỉ có Toà mới có quyền diễn giải quy chế của mình. Nếu không thì tất cả các thành viên của theo Quy chế đều có thể can thiệp vào mọi tranh tụng trước Toà, bởi vì việc giải thích Quy chế luôn bị đe dọa trong quá trình tố tụng trước Tòa. Tuy nhiên, Tòa án đã chấp nhận rằng El Salvador có thể can thiệp trong phiên nội dung, nếu việc diễn giải các công ước đa phương là thật sự cần thiết (tùy theo nội dung của Tuyên bố bảo lưu Vandenberg, được đề cập dưới đây). El Salvador đã không làm như vậy.

  1. Thẩm quyền xét xử của Toà

Tiếp theo các Phiên về Biện pháp bảo vệ khẩn cấp, Toà đưa ra các quyết định liên quan đến thẩm quyền của mình vào ngày 26 tháng 11 năm 1984. Tuyên bố của Nicaragua về việc chấp nhận thẩm quyền của Toà vào năm 1929 về bản chất là không hợp lệ, vì văn bản chấp nhận Quy chế của Toà án công lý quốc tế thường trực (PCIJ) (chính xác hơn là “Nghị định thư Ký kết – Protocol of Signature”- của Quy chế) chưa bao giờ được gửi đến Toà. Tuy nhiên, Nicaragua đã tuyên bố tuân thủ hình thức đó, theo quy định của PCIJ cho phép ký thác một tuyên bố không bắt buộc trước khi thông qua Quy chế. Do đó, tuyên bố có khả năng có hiệu lực, được hoàn thiện bởi sự phê chuẩn theo đúng các thủ tục đương nhiệm. Tuyên bố thứ hai xuất hiện khi Nicaragua trở thành thành viên của Liên hợp quốc theo Điều 92 của Hiến chương, trong khi đang trong quá trình trở thành thành viên của Quy chế ICJ. Điều này đã hoàn thiện khả năng có hiệu lực của tuyên bố trước đó theo như Điều 36 (khoản 5) Quy chế ICJ, điều khoản này cho phép việc chuyển các tuyên bố không bắt buộc (công nhận thẩm quyền) của PCIJ sang ICJ. Hơn nữa, Tòa lưu ý rằng Nicaragua luôn tự coi mình bị ràng buộc bởi tuyên bố này và được đề cập như một quốc gia thành viên trong hệ thống (của ICJ) theo Niên giám của Tòa, mặc dù có chú thích nhắc lại việc không nhận được văn kiện thông qua. Điều này đủ để chỉ ra rằng Nicaragua bị ràng buộc với quyền tài phán của Tòa bằng sự chấp thuận ngầm.

Tòa sau đó chuyển sự chú ý của mình đến thư của Ngoại trưởng Hoa Kỳ George Schultz gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc Javier Pérez de Cuéllar ngày 6 tháng 4 năm 1984. Thư này có mục đích là nhằm tránh nè các vụ kiện nhằm vào Hoa Kỳ, nó được gửi đi 3 ngày trước khi Nicaragua gửi đơn kiện lên Toà. Trong phần có liên quan, lá thư này cho rằng Tuyên bố của Hoa Kỳ theo Điều 36 (khoản 2) của Quy chế:

[S]ẽ không áp dụng đối với các tranh chấp với bất kỳ quốc gia miền Trung Mỹ hoặc phát sinh hay liên quan đến các sự kiện ở Trung Mỹ, bất kỳ tranh chấp nào sẽ được giải quyết bằng cách mà các bên tham gia đồng ý … Bất chấp các nội dung nêu ra trong Tuyên bố trước đây, điều khoản này sẽ có hiệu lực ngay lập tức và sẽ có hiệu lực trong hai năm, để phục vụ cho quá trình giải quyết tranh chấp khu vực.

Tòa cho rằng việc phủ quyết Tuyên bố của Hoa Kỳ về việc chấp nhận thẩm quyền của Toà trước đây (theo điều 36 khoản 2 của Quy chế) không thể tước đi thẩm quyền của Tòa. Bởi vì các lý do sau đây:

  1. Nó được gửi khi Hoa Kỳ nhận thức được rằng Nicaragua sẽ gửi đơn kiện mình ra Toà mặc dù nó được gửi trước hành vi này của Nicaragua.
  2. Nó trái với Tuyên bố năm 1946 của Hoa Kỳ mà theo đó Hoa Kỳ đã tự ràng buộc mình vào quy định rằng bất cứ sự thay đổi nào liên quan đến thẩm quyền của Toà Hoa Kỳ phải thông báo trong vòng 6 tháng.

Toà tiếp tục bác bỏ lập luận của Hoa Kỳ rằng nước này sẽ chấp nhận các hành vi có qua có lại của Nicaragua hoặc bất cứ bên thứ 3 nào có liên quan đến việc áp dụng Tuyên bố năm 1946 của mình. Theo đó, nước này tự thấy việc này là công bằng và có lợi cho cả hai bên nếu như việc huỷ Tuyên bố năm 1946 có hiệu lực ngay lập tức.

Tòa nhắc lại rằng nguyên tắc có qua có lại trong trường hợp này chỉ liên quan đến nội dung của các tuyên bố chứ không liên quan đến các điều kiện để các tuyên bố này có hiệu hay huỷ bỏ các tuyên bố khác. Cần phải chú ý thêm là việc có qua có lại có thể được viện dẫn chỉ bởi các quốc gia đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa ở mực độ áp dụng rộng hơn để tránh bị đặt vào tình thế bất lợi trước một quốc gia khác chấp nhận thẩm quyền của Toà bằng các bảo lưu – nó không thể được viện dẫn bởi một nước không muốn tuân theo các điều khoản trong tuyên bố của chính mình.

Cuối cùng, Tòa cho rằng nguyên tắc có qua có lại chỉ tồn tại giữa các thành viên trong vụ kiện trước Toà, chứ không phải để chống lại các tuyên bố công nhận thẩm quyền của Toà, hành vi này, theo Toà, là nằm ngoài quá trình tố tụng. Tòa lưu ý rằng tuyên bố của Nicaragua không có quy định về thời gian cho việc thông báo huỷ bỏ hiệu lực của tuyên bố, nên việc Hoa Kỳ giả định rằng Hoa Kỳ có thể huỷ bỏ tuyên bố của mình với hiệu lực tức thời là sai về mặt pháp lý, cụ thể là nguyên tắc có qua có lại giữa các thành viên. Nicaragua, theo phân tích từ luật điều ước quốc tế và theo nguyên tắc thiện chí thực hiện các cam kết của mình, có trách nhiệm phải bác bỏ các sửa đổi về sự đồng ý (thẩm quyền của Toà) trong thời gian thích hợp trước khi nó có hiệu lực.

Một sự phản đối nữa của Hoa Kỳ đối với thẩm quyền của Toà liên quan đến cái gọi là nguyên tắc bảo lưu Vandenberg, nằm trong tuyên bố năm 1946 của Thượng nghị sĩ Arthur H Vandenberg của Michigan. Tuyên bố này sẽ bác bỏ thẩm quyền của Toà đối với các tranh chấp phát sinh tranh chấp từ một điều ước đa phương, trừ khi (1) tất cả các bên tham gia điều ước bị ảnh hưởng bởi quyết định này cũng là các bên tham gia vụ kiện, hoặc (2) Hoa Kỳ đồng ý với thẩm quyền của mình. Tòa quyết định rằng tuyên bố bảo lưu này trước mắt sẽ có giá trị áp dụng trong  trong quá trình tố tụng , nhưng không đủ để vô hiệu hóa việc Hoa Kỳ đồng ý với thẩm quyền của Toà, bởi vì mức độ mà các quốc thứ ba trong quá trình tố tụng có thể bị ảnh hưởng như thế nào bởi phán quyết cuối cùng của Tòa phụ thuộc vào các quyết định liên quan chặt chẽ đến quá trình tranh tụng về mặt nội dung của vụ. Do đó, vấn đề ở đây không phải chỉ có tính chất sơ bộ (là thẩm quyền của Toà) mà liên quan đến các phiên nội dung của quá trình tranh tụng. Sau đó, Tòa đã xem xét và khẳng định thêm một cơ sở của thẩm quyền là điều khoản thỏa hiệp có trong Điều XXIV (khoản 2) của Hiệp ước Thương mại và hàng hải, trong đó có một số điều khoản mà Nicaragua cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã vi phạm.

Tòa án cũng xem xét các phản đối khác nhau của Hoa Kỳ liên quan đến sự phù hợp của các yêu sách của Nicaragua. Trước hết, Tòa chỉ ra rằng các bên thứ ba, có khả năng bị ảnh hưởng bởi phán quyết, là không phải là rất cần thiết trong quá trình tố tụng này theo như tuyên bố của Tòa trong vụ Monetary Gold. Phán quyết của Toà, trước hết, là không liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của bên thứ ba, mặc dù các quyền và nghĩa vụ rất có thể sẽ bị ảnh hưởng gián tiếp bởi phán quyết của Toà. Do đó, Điều 59 của Quy chế, phán quyết của Toà chỉ có hiệu lực với các bên trong tranh chấp, có thể được áp dụng để bảo vệ quyền lợi của các bên thứ ba.

Thứ hai, Tòa cho rằng thẩm quyền của mình không bị cản trở dù Hội đồng Bảo an cũng có các quyền tương tự trong việc bảo vệ an ninh và hoà bình. Theo Điều 24 (khoản 1) của Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an chỉ có thẩm quyền chính yếu đối với các vấn đề liên quan đến việc duy trì hòa bình; quyền lực này không phải là độc quyền. Hơn nữa, Điều 12 (khoản 1) của Hiến chương không chứa bất kỳ giới hạn nào đối với các hoạt động song song giữa Hội đồng Bảo an và Tòa, trái ngược với mối quan hệ giữa Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng. Do đó, dưới sự phân chia quyền hạn được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hội đồng được ủy quyền để giải quyết các khía cạnh chính trị của các tranh chấp quốc tế và Tòa án với những khía cạnh về pháp lý, một sự sắp xếp được Tòa án đã xác nhận là phù hợp trong vụ Tehran Hostages.

Thứ ba, Tòa bác bỏ lập luận của Hoa Kỳ rằng tranh chấp này là không thể giải quyết được bằng con đường tài phán, Toà cho rằng Toà sẽ chỉ áp dụng các quy định điều chỉnh việc sử dụng vũ lực và không can thiệp theo luật pháp quốc tế, và vì vậy sẽ không vượt quá chức năng tư pháp của Toà. Nếu có khó khăn trong việc thiết lập các bằng chứng thực tế trong một cuộc xung đột đang diễn ra, thì có thể nói rằng tình huống này được xử lý theo các nguyên tắc về bằng chứng.

Cuối cùng, Tòa án cho rằng các bên không bị ràng buộc phải thực hiện tất cả mọi thủ tục chính trị để giải quyết tranh chấp trước khi đưa tranh chấp ra Tòa, đáng chú ý nhất là “Quá trình Contadora”. Việc tiếp tục đàm phán không làm ảnh hưởng đến thẩm quyền của Toà hay làm cho các yêu sách trước Toà trở nên không phù hợp.

Trên cơ sở những điều đã nói ở trên, 11/5 thẩm phán đồng ý với thẩm quyền của Toà để xét xử vụ theo các Tuyên bố không bắt buộc (công nhận thẩm quyền của Toà), và 14/2 phiếu cho rằng Tòa có quyền tài phán theo Hiệp ước Thương mại và hàng hải. Tất cả các lập luận về việc các yêu sách không phù hợp đưa ra quá trình tố tụng đều bị từ chối.

 

Dịch: Nhóm sinh viên Khoa quan hệ quốc tế – trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Tp.HCM

Nguyễn Ngọc Như

Nguyễn Thị Thanh Tuyền

Bùi Thị Bích Ngọc

Huỳnh Lê Thanh Vân

Đỗ Thu Huyền

Huỳnh Quốc Bình

Nguyễn Chung Thùy Dương

Nguyễn Thị Phương Hoa

Biên tập: Phạm Ngọc Minh Trang, Giảng viên, Khoa quan hệ quốc tế – trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Tp.HCM

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: