[100] Phán quyết ngày 01 tháng 10 năm 2018 của Tòa ICJ trong Vụ về nghĩa vụ đàm phán giữa Bôlivia và Chilê: Một số điểm có giá trị án lệ

Bối cảnh vụ việc – Nghĩa vụ đàm phán trong luật quốc tế – Cơ sở pháp lý xác lập nghĩa vụ đàm phán (thỏa thuận song phương, hành vi pháp lý đơn phương, nghị quyết tổ chức quốc tế, ngầm chấp thuận, estoppel, sự kỳ vọng chính đáng và hiệu lực tổng thể) – Tòa khẳng định giá trị tập quán của hai quy định Công ước Viên năm 1969

  1. Bối cảnh vụ việc

Năm 2013, Bôlivia khởi kiện Chilê ra Tòa ICJ, yêu cầu Tòa tuyên bố Chilê có nghĩa vụ pháp lý phải đàm phán với Bôlivia về quyền tiếp cận biển của nước này. Tại thời điểm Bôlivia giành độc lập năm 1825, nước này có đường bờ biển dài 400 km dọc theo Thái Bình Dương. Năm 1879, Chilê gây chiến với Peru và Bôlivia (Chiến tranh Thái Bình Dương – Pacific War), kết quả là nước này chiến đóng toàn bộ vùng lãnh thổ dọc Thái Bình Dương của Bôlivia. Năm 1904, Chilê và Bôlivia ký kết Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị, chính thức kết thúc tình trạng chiến tranh giữa hai nước. Theo Hiệp ước này, vùng lãnh thổ ven biển mà Chilê chiếm đóng của Bôlivia được công nhận là thuộc về Chilê. Hiệp ước cũng trao cho Bôlivia quyền quá cảnh thương mại vĩnh viễn, rộng và tự do nhất trên lãnh thổ và các cản biển của Chilê. Tóm lại, điểm thỏa hiệp cốt lõi trong Hiệp ước năm 1904 là Bôlivia công nhận chủ quyền của Chilê trên vùng lãnh thổ ven biển bị chiếm đóng, đổi lại Chilê trao cho Bôlivia quyền quá cảnh tự do qua lãnh thổ của nước này ra Thái Bình Dương. Với Hiệp ước này, Bôlivia từ một quốc gia ven biển trở thành một quốc gia lục địa hoàn toàn.

Sau đó, Bôlivia không thỏa mãn với quyền quá cảnh theo Hiệp ước năm 1904, mà đòi hỏi một quyền chủ quyền để tiếp cận Thái Bình Dương thông qua lãnh thổ của Chilê (a sovereign access to the Pacific Ocean). Trả lời cho câu hỏi của Thẩm phán Owada về nội hàm của quyền chủ quyền này, Bôlivia và Chilê có cách giải thích khác nhau.[1] Theo Chilê, quyền tiếp cận mà Bôlivia mong muốn thực chất là đòi hỏi Chilê chuyển nhượng một phần lãnh thổ của mình cho Bôlivia để tạo ra một hành lang nối lãnh thổ của Bôlivia ra Thái Bình Dương. Bôlivia lại giải thích theo cách mập mờ hơn. Nước này cho rằng quyền chủ quyền này không nhất thiết phải liên quan đến chuyển nhượng lãnh thổ. Bôlivia chỉ đòi hỏi Chilê trao cho Bôlivia một quyền tiếp cận của chính mình ra biển với chủ quyền phù hợp với luật quốc tế. Quyền chủ quyền này tồn tại không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì hay ai được hưởng quyền tiếp cận, và bảo đảm một lối ra biển không bị gián đoạn cho Bôlivia. Bôlivia có toàn quyền trong việc quản lý, kiểm soát lối tiếp cận này, cả về pháp lý lẫn thực tế.

Bolivia v Chile

Do Bôlivia không yêu cầu Tòa ICJ công nhận quyền tiếp cận biển của nước này mà chỉ yêu cầu Tòa tuyên bố Chilê có nghĩa vụ phải đàm phán, Tòa ICJ chỉ xem xét vấn đề liệu có tồn tại một nghĩa vụ pháp lý theo luật quốc tế buộc Chilê phải đàm phán với Bôlivia về vấn đề quyền tiếp cận biển của Bôlivia hay không. Ngày 01 tháng 10 năm 2018, Tòa ICJ đã ra phán quyết về nội dung trong Vụ kiện giữa Bôlivia và Chilê, khẳng định không tồn tại một nghĩa vụ như thế. Dưới đây là một số nhận định pháp lý thú vị trong phán quyết này. Bài viết sẽ không đi sâu vào các vấn đề chi tiết của vụ việc mà chỉ nhằm tóm tắt lại các điểm pháp lý thú vị, có thể áp dụng vào các vụ việc tương tự trong tương lai. Để xem chi tiết phán quyết: toàn văn bằng tiếng Anh, và bản tóm tắt phán quyết của Ban thư ký Tòa.

  1. Nghĩa vụ đàm phán theo luật quốc tế

Trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế theo Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc, đàm phán là một biện pháp được sử dụng rộng rãi nhất, phổ biến nhất. Khi phát sinh tranh chấp, các quốc gia thông thường bắt đầu bằng biện pháp đàm phán và thường sẽ giải quyết được bằng biện pháp đàm phán. Trong Vụ Bôlivia v. Chilê này, Tòa khẳng định rằng thực tế này không đồng nghĩa với việc luật pháp quốc tế bắt buộc các quốc gia phải đàm phán khi phát sinh tranh chấp – nói cách khác, không có một nghĩa vụ đàm phán tồn tại trong luật quốc tế chung.[2] Các quốc gia được tự do thỏa thuận để lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp, miễn sau là biện pháp hòa bình.[3] Tòa ICJ cho rằng nghĩa vụ đàm phán chỉ tồn tại nếu có thỏa thuận giữa các quốc gia. Tòa nhận định: “Trong khi các Quốc gia có quyền tự do sử dụng biện pháp đàm phán cũng như chấm dứt đám phán, các Quốc gia có thể đồng ý chịu ràng buộc bởi một nghĩa vụ đàm phán.”[4]

Khi đã có thỏa thuận về nghĩa vụ đàm phán, luật quốc tế bắt buộc các quóc gia phải tiến hành đàm phán và đàm phán một các thiện chí.[5] Tòa trích lại các án lệ trong Vụ Thềm lục địa Biển BắcVụ tranh chấp tên gọi giữa Macedonia và Hy Lạp[6] để khẳng định rằng các quốc gia phải đàm phán một cách có ý nghĩa (meaningful), chứ không thể đàm phán theo cách mà một bên kiên quyết giữ quan điểm của mình mà không nghĩ đến khả năng điều chỉnh quan điểm. Nghĩa vụ đàm phán buộc các quốc gia phải xem xét một cách hợp lý (reasonable) đến lợi ích của bên còn lại. Tóm lại, đàm phán thiện chí là đàm phán có ý nghĩa và hợp lý, trong đó các bên thực sự xem xét đến quan điểm của nhau để cùng cố gắng đạt được một thỏa hiệp mà các bên cùng chấp nhận.

Tòa ICJ còn khẳng định lại quan điểm nhất quán của mình là nghĩa vụ đàm phán không có nghĩa là nghĩa vụ phải đạt được thỏa thuận, trừ khi có thỏa thuận cụ thể về kết quả cần đạt được của đàm phán là gì.[7] Theo đó, nghĩa vụ đàm phán là một nghĩa vụ về hành vi (an obligation of conduct) hơn là một nghĩa vụ về kết quả (an obligation of result). Nghĩa vụ đàm phán sẽ thỏa mãn nếu một bên cho thấy mình đã nỗ lực tiến hành đàm phán một cách thiện chí.

  1. Cơ sở pháp lý cho một nghĩa vụ đàm phán

Như đã nói ở trên, nghĩa vụ đàm phán không tồn tại mặc nhiên trong luật pháp quốc tế. Tòa ICJ khẳng định rằng “Trong luật quốc tế, sự tồn tại của một nghĩa vụ đàm phán phải được xác lập giống như với bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào khác.”[8] Điều quan trọng nhất là phải có ý định chịu ràng buộc pháp lý bởi một nghĩa vụ đàm phán.[9] Tòa nhận định: “để xác lập một nghĩa vụ đàm phán trên cơ sở thỏa thuận, câu chữ được các bên sử dụng, nội dung chính và các điều kiện đàm phán phải cho thấy ý định của các bên chịu ràng buộc pháp lý. Ý định này, trong trường hợp không có câu chữ rõ ràng thể hiện sự tồn tại của một cam kết pháp lý, có thể được xác lập trên cơ sở xem xét một cách khách quan tất cả các bằng chứng.”[10] Trong vụ việc này, Tòa xem xét các văn kiện mà Bôlivia viện dẫn để xem xét liệu có một nghĩa vụ pháp lý phải đàm phán hay không. Các văn kiện mà Bôlivia viện dẫn có thể chia làm hai nhóm: thỏa thuận song phương, nghị quyết của tổ chức quốc tế và tuyên bố đơn phương của Chilê.

Về thỏa thuận song phương, Tòa xem xét trong hàng loạt các văn kiện mà Bôlivia đệ trình có hay không tồn tại ý định của hai nước về một thỏa thuận pháp lý áp đặt nghĩa vụ đàm phán. Tòa ghi nhận rằng theo luật tập quán quốc tế, thỏa thuận có thể là bằng văn bản hoặc phi-văn bản, và cũng có thể minh thị hoặc ngầm định.[11] Đương nhiên, một thỏa thuận ngầm định (tacit agreement) cần phải có bằng chứng xác đáng (compelling).[12] Xác lập sự tồn tại của một thỏa thuận ngầm định yêu cầu ngưỡng bằng chứng rất cao. Tòa không tìm thất bất kỳ thỏa thuận nào giữa hai nước cho thấy có nghĩa vụ đàm phán trong tất cả các văn kiện song phương mà Bôlivia đệ trình: hoặc vì không phải điều ước quốc tế hoặc vì không thể hiện rõ có cam kết cụ thể về vấn đề cụ thể là quyền chủ quyền về tiếp cận biển của Bôlivia. Cụ thể, Tòa bác bỏ các văn kiện sau đây là điều ước quốc tế: các trao đổi ngoại giao những năm 1920,[13] các công hàm trao đổi và việc trao đổi công hàm năm 1950,[14] Tuyên bố Charana năm 1975 ký giữa Tổng thống hai nước,[15] thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Bôlivia về các cuộc gặp giữa hai nước năm 1986.[16] Tòa cũng không tìm thấy sự tồn tại của một thỏa thuận như thế thông qua các văn kiện song phương khác do câu chữ không thể hiện cam kết đàm phán, cũng không nhắc đến vấn đề về quyền tiếp cận biển như các thông cáo chung của ngoại trưởng và tổng thống hai nước năm 2000, hoặc được đề cập quá rộng như mục “vấn đề trên biển” trong biên bản của nhóm làm việc chung của hai nước về các vấn đề song phương năm 2006.[17]

Về hành vi đơn phương của Chilê, Tòa cần xem xét liệu các hành vi đơn phương, tuyên bố đơn phương của Chilê có cấu thành một hành vi pháp lý đơn phương tạo ra nghĩa vụ đàm phán cho nước này hay không. Trích lại phán quyết trong Vụ thử hạt nhân năm 1974 (xem thêm post này), Tòa khẳng định lại tiêu chí để một hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý cho quốc gia đó: chứng minh được quốc gia đưa ra tuyên bố đơn phương có ý định tạo ra một nghĩa vụ pháp lý ràng buộc.[18] Trích lại phán quyết về thẩm quyền trong Vụ Côngô v. Rwanda năm 2006, Nếu một tuyên bố do người đại diện quốc gia đưa ra, Tòa sẽ cần xem xét “nội dung thực sự của tuyên bố đó cũng như hoàn cảnh mà tuyên bố được đưa ra.”[19] Tòa cho rằng không tồn tại một nghĩa vụ đơn phương buộc Chilê phải đàm phán bởi vì dù các tuyên bố đơn phương có nhắc đến vấn đề quyền chủ quyền về tiếp cận biển của Bôlivia, câu chữ không thể hiện cam kết pháp lý mà là sự sẵn sàng (willingness) tiến hành đàm phán, và hoàn cảnh đưa ra các tuyên bố cũng không thể hiện bằng chứng cho thấy Chilê có ý định tạo ra nghĩa vụ pháp lý đơn phương.[20] Tóm lại, cả hai tiêu chí đều không thỏa mãn: câu chữ và hoàn cảnh.

Về các nghị quyết của Tổ chức Liên Mỹ, Tòa cho rằng các nghị quyết mà Bôlivia viện dẫn không có giá trị ràng buộc (cả hai nước đều đồng ý như thế) và chỉ khuyến nghị các bên tiến hành đàm phán.[21] Sự tham gia của Chilê vào việc thông qua các nghị quyết bằng đồng thuận (consensus) cũng không hàm ý Chilê chấp nhận nội dung của các nghị quyết là ràng buộc.

Về sự ngầm chấp thuận (acquiescence), Bôlivia cho rằng Chilê đã ngầm chấp thuận nghĩa vụ đàm phán qua việc Chilê im lặng khi Bôlivia đưa ra tuyên bố có nội dung về đàm phán phục hồi quyền tiếp cận biển của Bôlivia khi nước này ký UNCLOS năm 1984. Về vấn đề này, Tòa ICJ viện dẫn các án lệ chấp nhận rằng “ngầm đồng ý cũng tương đương với sự công nhận ngầm định được thể hiện bằng hành vi đơn phương mà một bên khác có thể giải thích là sự đồng ý,” và “sự im lặng có thể cũng gửi đi thông điệp, nhưng chỉ khi hành vi của một Quốc gia khác yêu cầu phải có phản ứng.”[22] Tòa cho rằng không có tuyên bố nào của Bôlivia đặt ra yêu cầu Chilê phải có phản ứng, do đó, đây không phải là cơ sở pháp lý để xác lập một nghĩa vụ đàm phán. Tương tự như thế, Tòa cũng bác bỏ lập luận của Bôlivia về estoppel.[23] Cần lưu ý là Tòa không khẳng định sự ngầm đồng ý hay estoppel có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý thực chất hay không; Tòa chỉ đơn giản bác bỏ lập luận của Bôlivia.

Bôlivia cũng viện dẫn khái niệp sự kỳ vọng chính đáng (legitimate expectation). Tuy nhiên, Tòa bác bỏ một cách trực tiếp (khác với sự ngầm đồng ý và estaoppel ở trên) rằng sự kỳ vọng chính đáng có thể có trong luật đầu tư quốc tế, nhưng không có nghĩa cũng tồn tại trong luật quốc tế chung.[24] Như một lớp lập luận cuối cùng, Bôlivia cho rằng cho dù từng nhóm văn kiện có thể không thể hiện thỏa thuận về một nghĩa vụ đàm phán, nhưng hiệu lực tổng thể của chúng cho thấy có một thỏa thuận như thế. Tòa bác bỏ lập luận này: thứ nhất, không có cơ sở pháp lý cho thấy hiệu lực tổng thể (cumulative effect) là căn cứ làm pháp sinh nghĩa vụ pháp lý; thứ hai, do mỗi văn kiện, hành vi đều không thể hiện thỏa thuận về nghĩa vụ đàm phán thì tổng thể của chíng cũng không dẫn đến một kết luận khác.[25]

  1. Xác nhận giá trị tập quán của một số quy định của Công ước Viên năm 1969

Tòa khẳng định các quy định điều ước sau đây là tập quán quốc tế: Điều 3 về hiệu lực pháp lý của thỏa thuận phi-văn bản (xem thêm post này),[26] Điều 13 về thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc bằng trao đổi văn kiện cấu thành điều ước (xem thêm post này),[27] Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969. Tòa còn giải thích thêm thực tiễn thực thi Điều 13.[28]

Trần H.D. Minh

———————————————————————————–

[1] Xem tóm tắt quan điểm của Bôlivia và Chilê về nội hàm của quyền tiếp cận mà Bôlivia đòi hỏi tại Vụ về Nghĩa vụ đàm phán quyền tiếp cận Thái Bình Dương (Bôlivia v. Chilê) [2018] (Phán quyết về nội dung) Tòa ICJ 32 [90], xem tại https://www.icj-cij.org/files/case-related/153/153-20181001-JUD-01-00-EN.pdf (truy cập ngày 02/10/2018). Trao đổi cụ thể giữa Bôlivia và Chilê, xem tại: Written reply of Bôlivia to the question put by Judge Owada at the public sitting held on the afternoon of 8 May 2015, Written reply of Chilê to the question put by Judge Owada at the public sitting held on the afternoon of 8 May 2015; Comments in writing of Chilê on the written reply of the Bôlivian Government to the question put by Judge Owada at the public sitting held on the afternoon of 8 May 2015, và Comments in writing of Bôlivia on the written reply of the Chilêan Government to the question put by Judge Owada at the public sitting held on the afternoon of 8 May 2015, xem tại https://www.icj-cij.org/en/case/153 (truy cập ngày 02/10/2018).

[2] Phán quyết về nội dung, như trên, 32 [91].     [3] Như trên, 51 [165].   [4] Như trên, 31 [86].   [5] Như trên.   [6] Như trên, Vụ Thềm lục địa Biển Bắc (Hà Lan v. Đức/Đan Mạch v. Đức) [1969] (Phán quyết) Tòa ICJ 47 [85]; và Vụ Áp dụng Thỏa thuận tạm thời ngày 13 tháng 9 năm 1995 (Macedonia v. Hy Lạp) [2011] (Phán quyết) Tòa ICJ 685 [132].   [7] Như trên, 32 [87].   [8] Như trên, 32 [91].   [9] Như trên.   [10] Như trên.   [11] Như trên, 34 [97].   [12] Như trên.   [13] Như trên, 36 [106]-[107].   [14] Như trên, 38 [116].   [15] Như trên, 40 [126].   [16] Như trên, 42 [131]-[132].   [17] Như trên, [135].   [18] Như trên, 46 [146].   [19] Như trên.   [20] Như trên, 46-47 [147]-[148].   [21] Như trên, 53 [171].

[22] Như trên, 48 [152]. Tòa trích lại Vụ phân định ranh giới biển trong Vịnh Maine (Canada/Mỹ) [1984] (phán quyết) Tòa ICJ 305 [130], và Vụ Tranh chấp chủ quyền đối với đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore) [2008] (Phán quyết) ICJ 51 [121].   [23] Như trên, 49-50 [158]-[159].   [24] Như trên, 50 [162].   [25] Như trên, 54 [174].   [26] Như trên, 34 [97].   [27] Như trên, 38 [116].   [28] Như trên, [117].

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: