[199] Quyền tự do lập hội trong các các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới và những thách thức đặt ra cho Việt Nam

Định nghĩa FTA – Cơ sở pháp lý của các FTA – FTA “thế hệ mới” – Quyền tự do lập hội theo Hiệp định EVFTA – Quyền tự do lập hội theo Hiệp định CPTPP – Thách thức thực thi các cam kết lao động quốc tế – Thách thức hoàn thiện pháp luật về quyền lập hội

Trong số các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã và đang tham gia, Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) là hai hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” với nhiều nội dung cam kết mới về lao động, trong đó có cam kết về quyền tự do lập hội. Bài viết phân tích các quy định về quyền tự do lập hội trong CPTPP và EVFTA và chỉ ra những thách thức cho quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật của Việt Nam nhằm thực thi một cách thiện chí, có hiệu quả các hiệp định này.

1. Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

1.1. Hiệp định thương mại tự do là gì?

Hiệp định thương mại tự do (FTA – Free Trade Agreement) được hiểu là các hiệp định hợp tác kinh tế được ký giữa hai hay nhiều thành viên nhằm loại bỏ các rào cản với phần lớn hoạt động thương mại đồng thời thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các nước thành viên với nhau.[1] Các rào cản thương mại có thể dưới dạng thuế quan, quota nhập khẩu, các hàng rào phi thuế quan khác như tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn về vệ sinh dịch tễ, …

Hiện nay có nhiều thuật ngữ được sử dụng khác nhau như Hiệp định đối tác kinh tế (Economic Partnership Agreement), Hiệp định thương mại khu vực (Regional Trade Agreement), … nhưng nếu bản chất của các hiệp định đều hướng tới tự do hoá thương mại (bao gồm loại bỏ rào cản và thúc đẩy thương mại), thì đều được hiểu là các FTA.

Tuy nhiên, FTA khác với các Hiệp định WTO, các Hiệp định thương mại, đầu tư song phương giữa các quốc gia, hay các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA – Preferential Trade Agreements). Cụ thể, các Hiệp định WTO thường bao gồm cam kết trong các lĩnh vực thương mại cụ thể như hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, … hướng đến thống nhất các quy tắc chung tạo nền tảng cho thương mại toàn cầu, và mới chỉ dừng lại ở việc giảm bớt các rào cản thương mại. So với các Hiệp định WTO thì các FTA có mức độ tự do hoá cao hơn, hướng đến không chỉ giảm bớt, mà là loại bỏ hoàn toàn rào cản đối với thương mại. Trong khi đó, khác với FTA, các Hiệp định thương mại đầu tư song phương (ví dụ như Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, Hiệp định hỗ trợ và hợp tác lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan, ….) chỉ hướng đến các cam kết tạo khuôn khổ chung cho hoạt động đầu tư và thương mại giữa hai nước mà không bao gồm các nội dung về loại bỏ rào cản thương mại. Các Hiệp định thương mại ưu đãi (PTA) là những cam kết thương mại đơn phương mà một nước phát triển dành ưu đãi về thuế quan cho hàng nhập khẩu đến từ các nước đang phát triển, không dựa trên cơ sở có đi có lại. Các hiệp định này bao gồm Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP-Generalized System of Preferences).

Như vậy, so với các hiệp định kể trên, các FTA được đặc trưng bởi mục tiêu loại bỏ các rào cản đối với thương mại và mức độ tự do hoá thương mại giữa các Thành viên và mức độ tự do hoá thương mại. Đây cũng là cơ sở để phân biệt FTA với các FTA “thế hệ mới” sẽ được phân tích dưới đây.

1.2. Cơ sở pháp lý của hiệp định thương mại tự do

Mặc dù xu hướng ký kết các FTA trở nên phổ biến hơn trong những năm gần đây, đặc biệt khi các Vòng đàm phán của WTO rơi vào bế tắc do không đạt được bất kỳ thoả thuận thực chất nào, cơ sở pháp lý cho phép các nước thành viên WTO ký kết các FTA về thương mại hàng hoá đã được quy định từ lâu trong Điều XXIV của Hiệp định thuế quan và thương mại (GATT) 1947, sau này là GATT 1994.

Cụ thể, Điều XXIV:4 GATT ghi nhận việc thành lập các khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area) thông qua các FTA là nhằm mục tiêu tạo thuận lợi thương mại nhưng không được làm gia tăng rào cản cho các nước thành viên khác. Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong vụ kiện Thổ Nhĩ Kỳ – Các biện pháp hạn chế đối với nhập khẩu hàng dệt may đã giải thích điều khoản này không nhằm tạo thêm một nghĩa vụ riêng biệt cho các quốc gia và phải được giải thích nhất quán với các khoản khác trong Điều XXIV GATT.[2] Khi ký kết các FTA thì các cam kết về thuế hoặc các quy định về thương mại khác giữa các quốc gia thành viên FTA không được cao hơn hoặc hạn chế hơn so với các mức thuế hoặc các quy định về thương mại khác so với trước khi các quốc gia ký kết các FTA[3]. Ngoài ra, các bên ký kết FTA có nghĩa vụ phải dỡ bỏ “gần như toàn bộ” rào cản đối với thương mại nội khối[4]. Yêu cầu này nhằm hạn chế khả năng các bên vi phạm nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc một cách có chọn lọc, làm ảnh hưởng đến hệ thống thương mại toàn cầu.

Điều V và Điều V.bis Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) cũng cho phép các quốc gia được ký kết các FTA với mục tiêu loại bỏ các rào cản đối với thương mại dịch vụ. Tương tự Điều XXIV GATT, Điều V GATS yêu cầu các quốc gia khi ký kết FTA phải cam kết gỡ bỏ rào cản thương mại với hầu hết tất cả các ngành dịch vụ chính[5] (Điều V:1(a)) đồng thời không được tạo ra rào cản cao hơn đối với các nước không phải là thành viên của FTA (Điều V:4). Tuy nhiên, khác với Điều XXIV GATT, Điều V:3 GATS quy định thêm ưu đãi dành cho các quốc gia đang phát triển, theo đó, nếu các nước đang phát triển ký kết FTA với nhau thì các điều kiện sẽ được áp dụng một cách linh hoạt hơn.

Ngoài ra, Điều khoản cho phép (Enabling Clause), kết quả của Vòng đàm phán Tokyo năm 1979, cũng là cơ sở pháp lý cho các quốc gia ký kết các FTA. Theo đó, Đoạn 2(c) Điều khoản cho phép cho phép ngoại lệ đối với nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) trong trường hợp quốc gia phát triển ký kết các FTA với nhau mà không đặt ra các điều kiện cụ thể nào. Vì vậy, so với hai cơ sở pháp lý kể trên, việc ký kết FTA giữa các quốc gia đang phát triển được coi là “dễ dàng” hơn nếu viện dẫn cơ sở pháp lý là Điều khoản cho phép.

1.3. Hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới”

Thuật ngữ “thế hệ mới” được cho là sử dụng đầu tiên với các hiệp định thương mại tự do mà Liên minh châu Âu (EU) đàm phán với các đối tác thương mại của mình từ năm 2007. Việc các thành viên WTO thiếu đi sự đồng thuận dẫn đến bế tắc trong các vòng đàm phán Doha từ năm 2001 được cho là nguyên nhân thúc đẩy EU thực thi một chiến lược thương mại mới chính thức được công bố từ năm 2006[6]. Theo đó, EU cam kết phát triển và nâng cao quan hệ thương mại song phương với các đối tác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại của EU trên toàn cầu[7]. Vì vậy, năm 2007, EU bắt đầu khởi động các vòng đàm phán các hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” với các đối tác thương mại bao gồm Hàn Quốc, Ấn Độ và ASEAN với cách tiếp cận toàn diện, bao gồm nhiều nội dung đổi mới về đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, mua sắm chính phủ, hay phát triển bền vững.

Kể từ đó, thuật ngữ “thế hệ mới” được sử dụng một cách tương đối nhằm phân biệt các FTA được ký kết với phạm vi toàn diện hơn so với khuôn khổ tự do hoá thương mại được thiết lập trong các hiệp định WTO hay các hiệp định FTA truyền thống. Ngoài các hiệp định thương mại tự do của EU với các đối tác thương mại như FTA EU-Hàn Quốc, EU-Ấn Độ, EU-Nhật Bản, EU-ASEAN, … các hiệp định thương mại tự do được đàm phán sau giữa nhiều đối tác thương mại lớn như Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (T-TIP), … cũng áp dụng cách tiếp cận toàn diện này, và đều được coi là các hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới”.

Các FTA thế hệ mới này phân biệt với FTA truyền thống ở ba đặc điểm[8]. Thứ nhất, các FTA thế hệ mới bao gồm cả các nội dung “phi thương mại” trước đây từng bị đưa ra khỏi các vòng đàm phán WTO do lo ngại sẽ dựng nên các rào cản đối với thương mại, nay trong bối cảnh mới lại được quan tâm bởi có ảnh hưởng ngày càng lớn đến thương mại. Các vấn đề “phi thương mại” này bao gồm lao động, môi trường, phát triển bền vững, quản trị tốt, … Thứ hai, các FTA thế hệ mới bao gồm các nội dung mới hơn như đầu tư, cạnh tranh, mua sắm công, thương mại điện tử, khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ, … Thứ ba, các FTA thế hệ mới xử lý sâu sắc hơn các vấn đề thương mại truyền thống như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, quy tắc xuất xứ, … Cụ thể, khác với các hiệp định WTO và các FTA truyền thống, các FTA thế hệ mới có mức độ cam kết rộng và sâu sắc hơn, cam kết cắt giảm thuế gần như về 0% với gần như toàn bộ hàng hoá và dịch vụ mà không có loại trừ.

Đối chiếu với các tiêu chí kể trên, trong số 13 FTA mà Việt Nam đã ký kết[9] thì có hai hiệp định được coi là “thế hệ mới” bao gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

2. Các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên và những quy định liên quan đến quyền lập hội

 2.1. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được khởi động đàm phán từ tháng 6/2012, trải qua hơn 3 năm với 14 vòng đàm phán, tháng 12/2015 hai bên tuyên bố kết thúc đàm phán và công bố văn bản hiệp định vào đầu năm 2016. Tuy nhiên, đến tháng 6/2018, hai bên thống nhất tách EVFTA thành hai hiệp định gồm Hiệp định EVFTA về thương mại và Hiệp định EVIPA về đầu tư, được ký kết vào ngày 30/6/2019. Để chính thức có hiệu lực với hai bên, hai hiệp định này sẽ phải được cơ quan lập pháp của EU và Việt Nam phê chuẩn.

Về cơ sở pháp lý để ký kết hiệp định, theo Điều 1.1 của Hiệp định này, việc thành lập khu vực thương mại tự do phù hợp với Điều XXIV GATT và Điều V GATS. Như vậy, theo các quy định này, các cam kết trong EVFTA sẽ không được tạo thêm rào cản thương mại đối với các thành viên khác của WTO đồng thời phải dỡ bỏ gần như toàn bộ rào cản đối với thương mại nội khối. Ngoài ra, lời nói đầu của EVFTA còn viện dẫn thêm các cơ sở pháp lý khác bao gồm Hiệp định khung về đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam – EU (PCA) năm 2012; Hiến chương Liên Hợp quốc 1945; Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948; Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định, thoả thuận song phương, khu vực và các hiệp định đa phương khác mà các bên là thành viên. Tuyên bố về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1998, mặc dù được viện dẫn trong Chương 13 của Hiệp định này, nhưng không được nhắc đến trong Lời nói đầu như một cơ sở pháp lý cho toàn Hiệp định.

Các nội dung liên quan đến lao động nói chung và quyền tự do lập hội nói riêng được quy định tại Chương 13 EVFTA về Thương mại và Phát triển bền vững. Các quy định tại chương này nhằm thúc đẩy phát triển bền vững thông qua việc tăng cường cải thiện các khía cạnh liên quan đến thương mại và đầu tư của các vấn đề môi trường và lao động[10].

EVFTA dẫn chiếu đến các quy định của Tuyên bố ILO về nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998 (ILO Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work). Tuyên bố ILO xác định bốn nguyên tắc và quyền cơ bản của người lao động gồm quyền tự do lập hội và quyền thương lượng lao động tập thể, quyền tự do không bị cưỡng bức hay bắt buộc lao động, xoá bỏ một cách có hiệu quả lao động trẻ em, và quyền không bị phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Bốn quyền và nguyên tắc cơ bản này được thể hiện trong bốn cặp công ước của ILO gồm Công ước 87 và 98 về tự do lập hội và thương lượng lao động tập thể; Công ước 29 và 105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc, công ước 138 và 182 về xoá bỏ lao động trẻ em, Công ước 100 và 111 về xoá bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. EVFTA dẫn chiếu lại cả bốn nguyên tắc này[11].

Về quyền tự do lập hội , Điều 13.4 khoản 2 EVFTA quy định:

“2. Mỗi bên khẳng định các cam kết của mình, phù hợp với các nghĩa vụ trong ILO và Tuyên bố ILO về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động […], sẽ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc liên quan đến quyền cơ bản trong lao động, cụ thể là:

(a) quyền tự do hội họp và ghi nhận một cách có hiệu quả quyền thương lượng tập thể; […]”

Screen Shot 2020-07-05 at 12.30.49

Có thể thấy, giống như các quyền cơ bản khác, EVFTA không quy định trực tiếp cam kết quyền tự do lập hội mà dẫn chiếu lại cam kết của các bên trong Tuyên bố ILO. Theo EVFTA, các bên sẽ có nghĩa vụ đảm bảo quyền tự do lập hội nói riêng và các quyền cơ bản khác trong lao động nói chung trong phạm vi nghĩa vụ mà các bên cam kết chịu sự ràng buộc ở Tuyên bố ILO. Nói cách khác, các bên chỉ có nghĩa vụ pháp lý đảm bảo quyền tự do lập hội nếu các bên đã phê chuẩn công ước 87 và 98 của ILO về quyền tự do lập hội và thương lượng lao động tập thể. Mặt khác, Điều 13.4 khoản 5 Hiệp định khẳng định “Các bên thừa nhận rằng việc vi phạm các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động không thể được viện dẫn hoặc sử dụng như một lợi thế so sánh hợp pháp và các tiêu chuẩn lao động không được sử dụng với mục đích bảo hộ thương mại.” Điều này thể hiện nỗ lực của các bên trong việc cân bằng giữa một bên là bảo vệ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động và một bên là nỗ lực chống phân biệt đối xử trong thương mại dựa trên tiêu chuẩn lao động. Đồng thời, điều khoản này cũng nhấn mạnh lại bản chất EVFTA là một hiệp định thương mại chứ không phải là một hiệp định về lao động do đó các tiêu chuẩn về lao động không được phép sử dụng với mục đích bảo hộ thương mại trá hình.

2.2. Hiệp định thương mại đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP

Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) tiền thân là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), là hiệp định thương mại tự do được đàm phán từ tháng 3/2010  với 12 nước thành viên bao gồm Mỹ, Canada, Mexico, Peru, Chi-lê, New Zealand, Úc, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam. TPP được ký kết tháng 4/2016 tuy nhiên đến tháng 1/2017, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đắc cử, Mỹ đã tuyên bố rút khỏi hiệp định này, khiến TPP không thể có hiệu lực như dự kiến vào 2018. Tháng 11/2017, trong khuôn khổ Hội nghị thượng định Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, các nước thành viên còn lại của TPP đã ra Tuyên bố chung thống nhất đổi tên TPP thành CPTPP và tiếp tục ký kết CPTPP tháng 3/2018 để CPTPP có hiệu lực mà không có Mỹ. Ngày 30/12/2018, Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực với nội dung được giữ nguyên gần như toàn bộ các cam kết đã đạt được trong TPP, trừ (i) các cam kết của Mỹ hoặc với Mỹ, (ii) 22 điểm tạm hoãn, và (iii) một số sửa đổi trong các Thư song phương giữa các bên[12].

Về cơ sở pháp lý để ký kết hiệp định, lời nói đầu của CPTPP chỉ nhắc đến duy nhất Hiệp định Marrakesh thành lập WTO mà không nhắc đến các hiệp định khác hay Tuyên bố ILO 1998. Mặt khác, giống như EVFTA, Điều 1.1 CPTPP cũng viện dẫn Điều XXIV GATT và Điều V GATS của WTO là cơ sở để các bên ký kết CPTPP. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên gia, mặc dù câu chữ của EVFTA và TPP đều khẳng định cơ sở pháp lý là các điều khoản của WTO nhưng nội dung của các hiệp định này đều đi “quá xa” so với phạm vi cho phép của cả hai điều khoản này[13]. Bởi cả Điều XXIV GATT và Điều V GATS chỉ cho phép các quốc gia ký kết các FTA cam kết  trao cho nhau những thuận lợi hơn trong thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ so với các cam kết đã có trong WTO chứ không bao hàm các cam kết về lao động và các vấn đề khác như các FTA thế hệ mới

CPTPP quy định riêng một chương về lao động (Chương 19) với các cam kết được định chi tiết và cụ thể hơn so với Hiệp định EVFTA. CPTPP cũng dẫn chiếu đến Tuyên bố ILO 1998 về các nghĩa vụ và quyền cơ bản trong lao động nhưng bổ sung thêm những nghĩa vụ cụ thể hơn cho các nước là thành viên của Hiệp định.

So với quy định tại EVFTA, quy định tại Điều 19.2 rõ ràng hơn khi khẳng định các bên chỉ bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ liên quan đến quyền lao động trong phạm vi lãnh thổ của họ[14]. CPTPP cũng nhấn mạnh lại quy định không được phép sử dụng các tiêu chuẩn lao động với mục đích bảo hộ thương mại để đảm bảo mục tiêu của hiệp định là thúc đẩy thương mại và loại bỏ các rào cản đối với thương mại giữa các nước thành viên[15].

Về quyền tự do lập hội , Điều 19.3 tại Chương 9 của CPTPP quy định:

“1. Mỗi bên sẽ thông qua và duy trì các đạo luật và quy định, và thực hiện các đạo luật và quy định đó ở nước mình, các quyền sau đây như đã được yêu trong Tuyên bố ILO:

(a) Quyền tự do hội họp và ghi nhận có hiệu quả quyền thương lượng tập thể […]”

Screen Shot 2020-07-05 at 12.33.43

Nếu như EVFTA chỉ dừng lại ở việc nhắc lại cam kết của các bên trong Tuyên bố ILO, CPTPP tiến một bước xa hơn, quy định các bên có nghĩa vụ ban hành và thực thi các luật và quy định trong nước nhằm đảm bảo quyền tự do lập hội. Như vậy, kể cả khi các quốc gia thành viên CPTPP chưa phê chuẩn các công ước của ILO, các thành viên vẫn có nghĩa vụ ràng buộc theo CPTPP đảm bảo các quyền này bằng cách thông qua và duy trì các đạo luật và quy định trong nước. Theo đó, để đảm bảo quyền tự do lập hội, các thành viên cần có hệ thống pháp luật trong nước phù hợp, tạo khuôn khổ cho các tổ chức công đoàn – hình thức thể hiện của hiện quyền tự do hội họp – được hoạt động một cách tự do, độc lập. Tuy nhiên, CPTPP chỉ dừng lại ở đó mà không quy định chi tiết các quốc gia thành viên phải sửa luật như thế nào cho phù hợp. Các quy định này được cho là ít khắt khe hơn so với các cam kết trong hiệp định TPP trước đó khi TPP yêu cầu quốc gia thành viên phải sửa đổi điều khoản cụ thể trong luật lao động, bổ sung thêm thanh tra lao động, quy định các mốc thời gian cụ thể để thực hiện cam kết hay thậm chí quy định chế tài xử phạt ra sao nếu quốc gia thành viên không thực hiện đúng cam kết[16].

3. Những thách thức đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam để phù hợp với các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới về quyền lập hội

Để thực thi các cam kết về việc đảm bảo quyền tự do lập hội trong các FTA thế hệ mới, Việt Nam đứng trước hai thách thức lớn trong hoàn thiện hệ thống pháp luật bao gồm (i) thách thức hoàn thiện hệ thống cam kết quốc tế về lao động, và (ii) thách thức hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước về quyền tự do lập hội.

3.1.Thách thức hoàn thiện hệ thống cam kết quốc tế về lao động

Việt Nam gia nhập Tổ chức lao động quốc tế (ILO) từ 1992, và tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn năm trong số tám công ước ILO cơ bản[17]. Mới đây nhất, vào ngày 14/6/2019, Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua Nghị quyết phê chuẩn việc gia nhập Công ước 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể. Như vậy, chỉ còn lại 02 công ước là Công ước 87 về tự do lập hội và bảo vệ quyền tổ chức, và Công ước 105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức đang trong quá trình được xem xét, nghiên cứu về việc phê chuẩn.

Việc Việt Nam phê chuẩn Công ước 98 mới đây là một bước tiến quan trọng góp phần thực thi có hiệu quả các cam kết liên quan đến lao động của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới. Công ước đưa ra những quy định để đảm bảo thương lượng tập thể có hiệu quả giữa người lao động và người sử dụng lao động, như bảo vệ người lao động, cán bộ công đoàn không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc, đảm bảo cho các tổ chức đại diện của người lao động, người sử dụng lao động không bị can thiệp hoặc chi phối từ bên còn lại, yêu cầu Nhà nước có biện pháp về pháp luật và thiết chế nhằm thúc đẩy thương lượng tập thể[18]. Việc gia nhập Công ước 98 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến đến ký kết EVFTA đồng thời khẳng định nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam trong việc thực thi các cam kết liên quan đến lao động trong CPTPP. Mặc dù vậy, Công ước 87 về tự do lập hội và bảo vệ quyền của tổ chức chưa được Việt Nam phê chuẩn. Do các FTA thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên đều dẫn chiếu đến các công ước ILO cơ bản, nên thách thức đặt ra đối với Việt Nam là cần hoàn tất phê chuẩn công ước này nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả quyền tự do lập hội cũng như tuân thủ các cam kết trong các FTA thế hệ mới.

Tuy nhiên, việc phê chuẩn hay gia nhập các công ước quốc tế quan trọng cần thời gian để có sự cân nhắc kỹ lưỡng cho phù hợp với đặc điểm tình hình, điều kiện thực tế cũng như đảm bảo an ninh quốc gia. Một mặt, quyền tự do lập hội đề cập trong Công ước 87 chỉ bao gồm quyền của người lao động và người sử dụng lao động được thành lập, gia nhập tổ chức đại diện cho mình nhằm mục đích thúc đẩy quan hệ lao động chứ không điều chỉnh quyền thành lập các hiệp hội và các hoạt động khác bên ngoài phạm vi quan hệ lao động[19]. Do vậy, việc Việt Nam chưa phê chuẩn công ước này không cản trở quá lớn việc thực thi các quyền tự do lập hội nói chung đã được ghi nhận và đảm bảo trong hệ thống hiến pháp và pháp luật của Việt Nam. Mặt khác, Điều 2 Tuyên bố ILO khẳng định các quốc gia thành viên, dù đã phê chuẩn các công ước ILO hay chưa đều có nghĩa vụ phải tôn trọng, thúc đẩy và hiện thực hoá một cách thiện chí 8 công ước cơ bản của ILO. Do vậy, dù Việt Nam chưa phê chuẩn các công ước về quyền tự do lập hội thì với tư cách thành viên ILO, Việt Nam vẫn có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và hiện thực hoá một cách có thiện chí các quyền này, từ đó, đảm bảo được các cam kết về tiêu chuẩn lao động trong các FTA thế hệ mới.

EVFTA không quy định nghĩa vụ cụ thể trong việc hoàn thiện cam kết của Việt Nam về tiêu chuẩn lao động. Trong khi đó, theo cam kết trong hiệp định CPTPP, Việt Nam có thời gian chuẩn bị là 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực để hiện thực hoá quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể. Cụ thể, Việt Nam sẽ phải cho phép các tổ chức của người lao động ở cấp cơ sở doanh nghiệp có thể gia nhập hoặc cùng nhau thành lập tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn như cấp ngành, cấp vùng, theo đúng trình tự đăng ký được pháp luật quy định công khai, minh bạch[20]. Các tổ chức này được thành lập và hoạt động hoàn toàn độc lập với các tổ chức công đoàn hiện nay thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đây sẽ là thách thức lớn cho hệ thống công đoàn ở Việt Nam nói riêng và hệ thống chính trị Việt Nam nói chung để quản lý có hiệu quả hoạt động của các tổ chức đại diện cho người lao động này để vừa đảm bảo sự ổn định về chính trị và vừa tuân thủ các cam kết về lao động trong các FTA thế hệ mới. Tuy nhiên, Việt Nam có thời gian chuẩn bị là 5 năm từ khi CPTPP có hiệu lực để hiện thực hoá quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể. Năm năm là khoảng thời gian đủ và cần thiết để Việt Nam có lộ trình hoàn thiện hệ thống các cam kết quốc tế về lao động. Như vậy, mặc dù có nhiều thách thức về hoàn thiện hệ thống các cam kết quốc tế về lao động nhưng Việt Nam đều có cơ sở pháp lý và thực tiễn để thực thi có hiệu quả các cam kết trong các FTA thế hệ mới.

3.2. Thách thức hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước về quyền tự do lập hội  

Để thực thi thiện chí và có hiệu quả các cam kết về lao động trong các FTA thế hệ mới, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước về quyền tự do lập hội, đặc biệt là về quyền tổ chức của đại diện lao động ở Việt Nam – tổ chức công đoàn.

Hiện nay, tổ chức và hoạt động của công đoàn được quy định tại Điều 9, Điều 10 Hiến pháp 2013, Luật Công đoàn 2012, Bộ Luật lao động 2012, Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật Công đoàn về quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động, Nghị định số 200/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 11 Luật công đoàn về quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội, … Theo đó, pháp luật Việt Nam ghi nhận (i) quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động[21], (ii) chức năng, quyền, trách nhiệm của công đoàn[22], (iii) quyền và trách nhiệm của đoàn viên công đoàn[23], (iv) trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức doanh nghiệp với công đoàn[24], (v) đảm bảo hoạt động của công đoàn[25], và (vi) giải quyết tranh chấp và xử lí vi phạm pháp luật về công đoàn[26]. Như vậy, hoạt động của tổ chức công đoàn được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, tổ chức công đoàn thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định này là tổ chức chính trị xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.[27] Trên thực tế, công đoàn Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập khiến tổ chức này hoạt động kém hiệu quả như mô hình tổ chức cứng nhắc, tổ chức phong trào thuần tuý, đơn điệu, chậm thích ứng với tình hình mới[28],

Screen Shot 2020-07-05 at 12.40.40

Khi tham gia các FTA thế hệ mới như EVFTA và CPTPP, Việt Nam phải cho phép người lao động thực hiện quyền tự do lập hội, thành lập các tổ chức đại diện cho quyền lợi của mình, độc lập với hoạt động của tổ chức công đoàn nói trên. Các tổ chức công đoàn do người lao động lập ra này sẽ được thành lập và hoạt động độc lập và song song với tổ chức công đoàn hiện nay và sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật về công đoàn hiện hành. Điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định về quyền tự do hội họp của công dân và hệ thống pháp luật về hội sẽ là cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các tổ chức công đoàn độc lập này. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về hội hiện nay vẫn còn yếu và thiếu. Văn bản luật điều chỉnh về quyền lập hội hiện nay vẫn sắc lệnh số 102 SL/L004 được ban hành từ năm 1957. Trải qua hơn 60 năm, thực tiễn tổ chức, hoạt động của hội đã có nhiều thay đổi, nhiều quy định của sắc lệnh này đã tỏ ra không còn phù hợp[29] nhưng Việt Nam vẫn chưa ban hành được một luật về hội mới. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các hội vẫn chủ yếu được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật[30]. Dự án Luật về Hội đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 theo Nghị quyết số 70/2014/QH13 ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Quốc hội và được Quốc hội thảo luận tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XIV nhưng chưa được thông qua. Cho đến nay, trải qua nhiều kỳ họp nhưng Quốc hội vẫn chưa thể thông qua Dự thảo Luật về Hội, khiến cho hệ thống pháp luật về hội còn chưa hoàn chỉnh.

Như vậy, để thực hiện các cam kết về lao động trong các FTA thế hệ mới, một mặt Việt Nam cần bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về hội, bổ sung các quy định pháp luật cho phép thành lập công đoàn độc lập. Mặt khác, Việt Nam cũng cần thay đổi hệ thống pháp luật về lao động và công đoàn hiện hành, để tổ chức công đoàn hoạt động nhanh chóng và hiệu quả hơn, nhằm thích ứng với môi trường cạnh tranh mới với các tổ chức công đoàn độc lập trong tương lai.

Trang Ngô

(*) Để trích dẫn đúng chuẩn, mời tham khảo bản in trên Tạp chí Khoa học pháp lý – một trong các tạp chí chuyên ngành luật học có uy tín nhất tại Việt Nam: Ngô Thị Trang,  “Quyền tự do lập hội trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và những thách thức đặt ra cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 128, tháng 7 năm 2019, tr. 76-84.

————————————————————————

[1] “Hiệp định thương mại tự do là gì?”, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), xem tại http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/12396-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-fta-la-gi tham khảo ngày 23 tháng 9 năm 2019.

[2]Thổ Nhĩ Kỳ – Các biện pháp hạn chế đối với nhập khẩu hàng dệt may”, WT/DS34/AB/R, tr. 44-58.

[3] Điều XXIV:5 GATT.   [4] Điều XXIV:8 GATT.

[5] Theo Hệ thống phân loại của Liên Hợp quốc gồm 12 ngành dịch vụ và 155 ngành phụ dịch vụ.

[6] Zelazna, E., (2012) New Generation of EU Regional Trade Agreements, Vol 1 LSEU, tr. 95-105, tr. 96.

[7] Tlđd ; Selen Sarisoy Guerin, Prospects for the EU’s New Generation of FTAs, CEPS Commentary/29 April 2008, xem tại http://aei.pitt.edu/11592/1/1648[1].pdf tham khảo ngày 29/07/2019.

[8] TS. Nguyễn Thanh Tâm, “Tổng quan về các FTA thế hệ mới”, Giáo dục và xã hội, http://giaoducvaxahoi.vn/tin-phap-luat/t-ng-quan-v-cac-fta-th-h-m-i.html truy cập ngày 29/7/2019.

[9] Theo tổng hợp tại http://trungtamwto.vn/fta tham khảo ngày 23/9/2019.

[10] Điều 13.1 EVFTA.   [11] Điều 13.4 EVFTA.

[12] Xem tại http://trungtamwto.vn/fta/175-cptpp-tpp11/1 truy cập ngày 29/7/2019.

[13] TS. Nguyễn Thanh Tâm, Tlđd.

[14] Điều 19.2 khoản 1 CPTPP “Các bên khẳng định các nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên ILO, trong đó có các nghĩa vụ được nêu trong Tuyên bố ILO, liên quan đến các quyền lao động trong phạm vi lãnh thổ của họ.

[15] Điều 19.2 khoản 2 CPTPP “Các bên thừa nhận rằng, như đã được quy định tại đoạn 5 của Tuyên bố ILO, các tiêu chuẩn lao động không được sử dụng với mục đích bảo hộ thương mại.

[16] Xem thêm Thoả thuận song phương giữa Việt Nam và Mỹ về lao động trong khuôn khổ TPP tại https://ustr.gov/sites/default/files/TPP-Final-Text-Labour-US-VN-Plan-for-Enhancement-of-Trade-and-Labor-Relations.pdf  truy cập ngày 29/7/2019.

[17] Bao gồm công ước 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (phê chuẩn năm 1997), công ước 111 về phân biệt đối xử trong làm việc và nghề nghiệp (phê chuẩn năm 1997), công ước 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc (phê chuẩn năm 2003), công ước 182 về nghiêm cấm những hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (phê chuẩn năm 2000) và công ước 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (phê chuẩn năm 2007).

[18] “Phê chuẩn công ước 98 sẽ đẩy mạnh thương lượng tập thể thực chất”, Tạp chí Tuyên giáo,  xem tại http://tuyengiao.vn/xa-hoi/phe-chuan-cong-uoc-98-se-day-manh-thuong-luong-tap-the-thuc-chat-122087 truy cập ngày 29/7/2019.

[19] Bộ Công thương, Các cam kết về lao động – công đoàn của Hiệp định CPTPP, xem tại http://www.moit.gov.vn/CmsView-EcoIT-portlet/html/print_cms.jsp?articleId=13575 truy cập ngày 29/7/2019.   [20] Như trên.

[21] Điều 5 Luật Công đoàn 2012.   [22] Điều 11-16 Luật Công đoàn 2012.   [23] Điều 18, 19 Luật Công đoàn 2012.   [24] Điều 20, 21, 22 Luật Công đoàn 2012.   [25] Điều 23-29 Luật Công đoàn 2012.   [26] Điều 30, 31 Luật Công đoàn 2012.   [27] Điều 1 Luật Công đoàn 2012.

[28] “CPTPP: Việt Nam đối mặt với thách thức lớn về lao động, công đoàn”, Thời báo Tài chính Việt Nam,  xem tại http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2019-01-30/cptpp-viet-nam-doi-mat-voi-thach-thuc-lon-ve-lao-dong-cong-doan-67399.aspx truy cập ngày 29/7/2019.

[29] Điều 4 , Điều 6 Sắc lệnh 102/SL/L004.

[30] Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP;…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: