[177] UNCLOS: Cướp biển và cướp có vũ trang trên biển

Khái niệm “cướp biển” – Thẩm quyền phổ quát trong việc xử lý cướp biển – Phân biệt “cướp biển” và “cướp có vũ trang trên biển”

Ngày 26.12.2019, Báo Tuổi trẻ dẫn lại tin của Tờ Straits Times cho biết chỉ trong vòng bốn ngày đã có năm tàu bị cướp biển tấn công trên eo biển Singapore – vùng nước nối eo Malaca và Biển Đông. Tờ Straits Times cho biết vụ việc mới nhất là một tàu chở dầu bị tấn công bất thành vào ngày 25.12.2019 vừa qua, nâng tổng số vụ cướp biển trên eo biển Singapore trong 2019 lên 30 vụ. Cùng ngày 26.12.2019, Cục Hàng hải Việt Nam cũng đã có khuyến cáo cướp biểncho tàu thuyền đi qua khu vực có nguy cơ cướp biển cao ở eo biển phía đông Singapore, vùng biển Sulu – Celebes và Malaca.

Nhân thông tin này, bài viết xin giới thiệu sơ lược khuôn khổ pháp lý cơ bản của Công ước Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) điều chỉnh vấn đề cướp biển. Cuối bài viết sẽ đề cập đến một vấn đề khác tương tự với cướp biển (piracy): vấn đề cướp có vũ trang trên biển (armed robbery) được điều chỉnh bởi các quy định khác của Công ước.

1. Khái niệm “cướp biển” trong UNCLOS

Điều 101 của Công ước định nghĩa hành vi cướp biển là một trong những hành vi sau đây:

a) Bất kỳ hành vi bất hợp pháp sử dùng bạo lực hay bắt giữ hoặc bất kỳ sự cướp phá nào do thủy thủ hoặc hành khách trên một tàu tư nhân hay một phương tiện bay tư nhân thực hiện, vì những mục đích riêng tư, và nhằm:

(i) Chống lại một tàu hay một phương tiện bay khác, hay chống lại những người hay tài sản trên tàu hoặc phương tiện bay đang trên biển cả;

(ii) Chống lại một tàu, phương tiện bay, người hay tài sản đang ở khu vực nằm ngoài quyền tài phán của các quốc gia;

b) Bất kỳ hành vi tham gia một cách tự nguyện vào việc sử dụng một tàu hay một phương tiện bay với nhận thức rằng tàu đó hay phương tiện bay đó được dung làm tàu cướp biển hay phương tiện bay cướp biển;

c) Bất kỳ hành vi xúi giục hay cố tình tại điều kiện cho các hành vi được xác định ở điểm (a) hoặc (b).

Art 101

Tanaka phân tích định nghĩa trên thành 05 yếu tố cấu thành: (i) hành vi bất hợp pháp sử dụng bạo lực, chiếm giữ hay cướp phá, (ii) được thực hiện vì mục đích riêng tư, (iii) bởi thủy thủ hay hành khách của tàu tư nhân hay phương tiện bay tư nhân, hoặc chống lại tàu tư nhân hay phương tiện bay tư nhân, (iv) liên quan đến hai tàu hay phương tiện bay, (v) ở khu vực biển cả hay khu vực nằm ngoài thẩm quyền quốc gia.[1]

Điều 101 cũng được xem là một quy phạm tập quán quốc tế.[2]

2. Thẩm quyền phổ quát trong xử lý hành vi cướp biển

Khi hành vi cướp biển xảy ra trên biển cả hay ở vùng biển nằm ngoài quyền tài phán của các quốc gia, thẩm quyền xử lý hành vi cướp biển thuộc về bất kỳ quốc gia nào. Điều 105 quy định rằng: “mọi Quốc gia đều có thể bắt giữ tàu hay phương tiện bay cướp biển, hoặc tàu hay phương tiện bay bị cướp biển chiếm giữ và kiểm soát, và bắt giữ người và tạm giữ tài sản trên đó.” Điều 105 còn trao thẩm quyền xét xử tư pháp cho tòa án của quốc gia tiến hành việc bắt giữ. Theo đó, hành vi cướp biển thuộc thẩm quyền phổ quát (universal jurisdiction), bất kể quốc tịch của tàu hay phương tiện.

Thẩm quyền phổ quát đối với hành vi cướp biển là một ngoại lệ đối với nguyên tắc thẩm quyền độc quyền của quốc gia mà tàu mang cờ đối với tàu đó khi ở trên biển cả. Điều 92(1) UNCLOS quy định rằng:

“Tàu thuyền chỉ được quyền mang cờ của một Quốc gia và, khi đang ở trên biển cả, trừ các trường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các điều ước quốc tế hay trong Công ước này, sẽ thuộc thầm quyền độc quyền của Quốc gia mà tàu mang cờ.”

Art 92.1

Điều 105 về thẩm quyền phổ quát là một trong số “các trường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng trong … Công ước này”.

Nói thêm rằng nguyên tắc thẩm quyền độc quyền của quốc gia mà tàu mang cờ (the exclusive jurisdiction of the flag state) là một nguyên tắc lâu đời, được công nhận trong phát quyết nổi tiếng của Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (PCIJ) – tiền thân của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) – vào năm 1927 trong Vụ tàu Lotus giữa Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ.[3] Sau đó, nguyên tắc này được ghi nhận lại tại Điều 6(1) Công ước Geneva về Biển cả năm 1958 và Điều 92(1) UNCLOS trích ở trên. Gần đây, Tòa án Luật Biển Quốc tế (ITLOS) công nhận rằng cùng với nguyên tắc không thể thụ đắc chủ quyền đối với biển cả, nguyên tắc thẩm quyền độc quyền của quốc gia mà tàu mang cờ tại Điều 92 UNCLOS là “mặc định” (inherent) ngay trong quy chế pháp lý của biển cả như một vùng biển mở và tự do.[4]

Ngoài các quy định trên, UNCLOS còn quy định về nghĩa vụ hợp tác trấn áp cưới biển (Điều 100), vấn đề tàu chiến, tàu công vụ hay phương tiện bay công vụ bị khống chế để thực hiện hành vi cướp biển (Điều 102), vấn đề định nghĩa tàu cướp biển và phương tiện bay cướp biển (Điều 103), vấn đề quốc tịch của tàu cướp biển và phương tiện bay cướp biển (Điều 104), vấn đề trách nhiệm phát sinh khi bắt giữ tàu hay phương tiện bay mà không có đủ căn cứ (Điều 106), vấn đề tàu và phương tiện bay được phép bắt giữ tàu cướp biển hay phương tiện bay cướp biển (Điều 107), quyền lên tàu để kiểm tra (Điều 110), và quyền truy đuổi nóng (Điều 111).

3. Phân biệt “cướp biển” và “cướp có vũ trang trên biển”

Hành vi tấn công trên biển vì mục đích riêng tư (private ends) thường được chia làm hai loại: cướp biển (piracy) và cướp có vũ trang trên biển (armed robbery). Tiêu chí phân biệt là dựa vào vị trí mà hành vi tấn công được thực hiện, nói chính xác hơn là dựa vào quy chế pháp lý của vùng biển nơi hành vi được thực hiện. Như ở Điều 101 UNCLOS quy định, hành vi cướp biển là hành vi được thực hiện trên biển, và theo Điều 58(2), trên vùng đặc quyền kinh tế. Điều 58(2) quy định rằng “Các điều 88 đến 115 và các quy định cần thiết khác của luật quốc tế cũng được áp dụng cho vùng đặc quyền kinh tế trong chừng mực các quy định đó không trái với Phần này [về quy chế pháp lý của vùng EEZ]”. Như vậy, Điều 58(2) cho phép áp dụng các quy định của Công ước điều chỉnh vấn đề cướp biển trên biển cả vào vùng EEZ, cụ thể là tất cả các điều khoản nêu trên. Như vậy, các quy định về trấn áp cướp biển, bao gồm cả quy định về thẩm quyền phổ quát áp dụng đối với hành vi cướp biển trên vùng EEZ và biển cả.

Những hành vi tấn công trên biển vì mục đích riêng trên các vùng biển ngoài vùng EEZ và biển cả sẽ không được xem là cướp biển, mà được gọi là hành vi “cướp có vũ trang trên biển”. Các vùng biển đó bao gồm nội thủy, lãnh hải, và vùng nước quần đảo. Đây là các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, do đó, hành vi cướp có vũ trang sẽ được điều chỉnh theo quy định của pháp luật quốc gia ven biển.

Trần H. D. Minh

———————————————————————

[1] Tanaka Yoshifumi, The International Law of the Sea (Cambridge University Press 2012) 355 – 357.

[2] Tanaka Yoshifumi, The International Law of the Sea (Cambridge University Press 2012) 355, dẫn lại Ian Brownlie, Principles of Public International Law (Oxford University Press 2008) 229; J Asley Roach, ‘Today’s Customary International Law of the Sea’ (2014) 45(3) Ocean Development & International Law 239, 249 dẫn lại James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law, 8th ed. (Oxford University Press 2012) 303.

[3] Vụ tàu Lotus (Pháp v. Thổ Nhĩ Kỳ), Phán quyết năm 1927 của Tòa PCIJ năm 1927, tr. 25.

[4] Vụ tàu Norstar (Panama v. Ý), Phán quyết của Tòa ITLOS năm 2019, tr. 61, đoạn 218.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: