[31] Phân tích của Bộ Ngoại giao Mỹ năm 1982 về đường cơ sở thẳng của Việt Nam

Ngày 12 tháng 11 năm 1982 Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính lãnh hãi, trong đó đưa ra các điểm cơ sở với tọa độ cụ thể. Theo đó, Việt Nam xác lập 12 điểm cơ sở:

Điểm Vị trí địa lý
0 Nằm trên ranh giới phía tây nam của vùng nước lịch sử của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Campuchia
A1 Tại Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang
A2 Tại hòn Đá lẻ ở đông nam Hòn Khoai, tỉnh Minh Hải, nay thuộc tỉnh Cà Mau
A3 Tại Hòn Tài Lớn, Côn Đảo, Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, nay thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
A4 Tại Hòn Bông Lang – Côn Đảo
A5 Tại Hòn Bảy cạnh – Côn Đảo
A6 Tại Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý), tỉnh Thuận Hải, nay thuộc tỉnh Bình Thuận
A7 Tại Hòn Đôi, tỉnh Thuận Hải, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa
A8 Tại Mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Khánh, nay thuộc tỉnh Phú Yên
A9 Tại Hòn Ông Căn, tỉnh Phú Khánh, nay thuộc tỉnh Bình Định
A10 Tại đảo Lý Sơn, tỉnh Nghĩa Bình, nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi
A11 Tại đảo Cồn Cỏ, tỉnh Bình Trị Thiên, nay thuộc tỉnh Quảng Trị

Xem giới thiệu về đường cơ sở Việt Nam tại: UNCLOS 1982: Đường cơ sở.

Theo truyền thống, ngay sau đó Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa ra đánh giá pháp lý về đường cơ sở của Việt Nam. Đánh giá này được xuất bản trong tài liệu “Limits in the Seas No. 99: Straight Baselines: Vietnam” ngày 12 tháng 12 năm 1983. Lưu ý rằng Mỹ không phải là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và phân tích này chỉ là ý kiến riêng của nước Mỹ và có thể không phản ánh đúng cách hiểu về quy định của UNCLOS về đường cơ sở thẳng. Mọi dẫn chiếu đến phân tích này như là cách hiểu đúng về quy định nêu trên đều sai phương pháp và không chính xác. Luật quốc tế không thể được giải thích đơn phương bởi một quốc gia. Hơn nữa bài phân tích khá sơ sài, không lập luận chặt chẽ, câu chữ được sử dụng cũng không chuẩn mực và chính xác.

Nhìn chung, lý do mà Mỹ phản đối đường cơ sở thẳng của Việt Nam là do nước này cho rằng Việt Nam đã vi phạm quy định về vạch đường cơ sở thẳng trong Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958 (và cả UNCLOS 1982): các điểm cơ sở quá xa bờ và cách xa nhau nên không thể xem là “chuổi đảo nằm ngay sát dọc theo bờ biển” và đường cơ sở thẳng của Việt Nam vạch chệch xa khỏi xu hướng chung của bờ biển. Phân tích của Mỹ cũng có phần khá thú vị về quan điểm của Việt Nam đối với Vịnh Bắc Bộ tại thời điểm đó.

Việc dịch tài liệu này sang tiếng Việt nhằm giúp người đọc biết thêm quan điểm của nước khác về đường cơ sở của Việt Nam. Nếu đúng thì cần tiếp thu, nếu sai thì cần biết để đấu tranh, chuẩn bị lập luận phản bác.

———- dưới đây là dịch nguyên văn các phân tích của Bộ Ngoại giao Mỹ ———–

“… Hệ thống đường cơ sở thẳng được miêu tả trong Tuyên bố ngày 12 tháng 11 năm 1982 bao gồm một hệ thống liên tục 10 đoạn thẳng và 11 điểm cơ sở.[1] Hệ thống này không hoàn chỉnh ở các khu vực giáp với thẩm quyền của Campuchia và Trung Quốc. Tuy nhiên tuyên bố này cho thấy quan điểm của Việt Nam về các căn cứ để xác định các điểm cơ sở này. Hệ thống đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam yêu sách được để lại để phân định trong tương lại.[2]

Văn bản tuyên bố không cho thấy loại đường (như đường rhump hay đường trắc địa) sẽ nối các điểm cơ sở. Để thuận tiên, đường rhump sẽ được sử dụng để thể hiện trong bản đồ đi kèm; tuy nhiên tất cả các số đo khoảng cách được sử dụng theo đường trắc địa. Tổng chiều dài của 10 đoạn cơ sở là 846 hải lý. Khoảng cách trung bình giữa các điểm cơ sở liền kề là 84.6 hải lý và dao động từ 2 đến 161.8 hải lý. Tất cả các điểm trừ hai điểm là nằm trên các đảo. Các điểm cơ sở trên các đảo có khoảng cách trung bình 29.4 hải lý đến điểm gần nhất trên đất liền và cách tối đa 80.7 hải lý tính từ đất liền tại điểm A6 (Hòn Hải). Vùng nội thủy được yêu sách bởi hệ thống đường cơ sở không hoàn chỉnh này sắp xỉ 27.000 hải lý vuông (93,000 km2) – một vùng rộng lớn bằng với bang Maine hoặc bang Indiana.

Khoảng cách giữa các điểm liền kề và khoảng cách giữa bờ biển đất liền và các điểm cơ sở ngoài khơi được trình bày bên dưới:

ĐIỂM CƠ SỞ KHOẢNG CÁCH GIỮA CÁC ĐIỂM (hải lý) KHOẢNG CÁCH ĐẾN ĐẤT LIỀN (hải lý)
A1 99.2 80.7
A2 105.2 11.0
A3 3.0 50.5
A4 2.0 51.1
A5 161.3 51.5
A6 161.8 74.2
A7 14.8
A8 60.2
A9 89.5 7.6
A10 149.0 14.1
A11 13.9
Trung bình 84.6 39.4
Tổng 846.0

Hệ thống đường cơ sở được đưa ra trong tuyên bố năm 1982 hiện thực hóa tuyên bố trước đây của Việt Nam về vùng nước lãnh hải (ngày 12 tháng 5 năm 1977). Ngay sau tuyên bố năm 1982, một thảo luận đã xuất hiện trên tờ Nhân dân có uy tín, trong đó làm rõ tuyên bố đường cơ sở.[3] Các phân tích dưới đây có sử dụng bài báo trên tờ Nhân dân, mà do đây là tờ nhật báo chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần được xem là phản ánh quan điểm chính thức của Việt Nam. Văn bản của tuyên bố dẫn chiếu đến “Công ước Hoạch định Biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 27 tháng 6 năm 1887 giữa Pháp và Nhà Thanh”. Bên cạnh Công ước 1887, bài báo trên tờ Nhân Dân dẫn chiếu cụ thể đến Điều 4 Công ước Geneva về Lãnh hải và Tiếp giáp lãnh hải năm 1958, Điều 7 của Công ước Luật Biển năm 1982,[4] và một thỏa thuận về vùng nước lịch sử chung giữa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia ký ngày 7 tháng 7 năm 1982.[5] Khi yêu sách đường cơ sở thẳng, bài báo trên tờ Nhân Dân này cũng dẫn chiếu đến thực tiễn quốc gia của Myanmar, Malaysia và Thái Lan.

Vịnh Thái Lan

Theo tuyên bố trên, điểm cuối chưa phân định trong Vịnh Thái Lan là điểm 0 là:

“… nằm ở trên biển cả và trên đường thẳng nói quần đảo Thổ Chua đến đảo Poulo Wai…”

Một định nghĩa tương tự cũng được bài báo trên tờ Nhân Dân đưa ra, trong đó có dẫn chiếu cụ thể đến thỏa thuận về vùng nước lịch sử chung giữa Campuchia và Việt Nam. Mặc dù Việt Nam không là thành viên của Công ước Geneva về Lạnh hãi và Tiếp giáp lãnh hải, thảo luận về tuyên bố về đường cơ sở trên tờ Nhân Dân trích dẫn Công ước này, cụ thể là Điều 4. Việt Nam đã ký, nhưng chưa phê chuẩn, Công ước về Luật Biển năm 1982, cũng được trích dẫn trong tờ Nhân Dân. Điểm 0 do Việt Nam đề xuất không phải là một thực thể nổi cũng không là một bãi lúc nổi lúc chìm với một công trình kiên cố; do đó một điểm cơ sở ở điểm 0 có vẻ vi hạm cả hai Công ước được trích dẫn ở trên.[6]

Việc rõ ràng cho rằng vùng nước giữa quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai là trên “biển cả” sẽ có hệ lụy dẫn đến một số hạn chế nhất định trong vùng nước nội thủy được yêu sách. Thậm chí nếu các vùng nước này bây giờ được xem là nội thủy, Điều 5 Công ước Geneva năm 1958 kêu gọi duy trì “quyền qua lại vô hại” trong các vùng nước trước đây là biển cả. Việc sử dụng thuật ngữ tiếng Anh “high sea” để miêu tả vị trí của điểm 0 cũng đặt ra câu hỏi về căn cứ cho việc xem các vùng nước này là “lịch sử” (xem thảo luận bên dưới).

Phương pháp để nối điểm 0 với điểm cuối của đường biên giới trên bộ giữa Campuchia và Việt Nam không được nêu rõ, nhưng có liên quan đến việc phân chia tương lai vùng nước nội thủy được yêu sách.[7]

Vịnh Bắc Bộ

Phía Việt Nam có vẻ xem toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng nước lịch sử nội thủy của Việt Nam và Trung Quốc. Tác giả của bài báo trên tờ Nhân Dân cho rằng “Vịnh Bắc Bộ là một vịnh lịch sử nằm giữa lãnh thổ của Việt Nam và Trung Quốc.” Theo quan điểm của Việt Nam, các đoạn phía bắc của đường cơ sở thẳng của Việt Nam bên trong vịnh sẽ cũng là đường biên giới với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong vịnh này. Các đoạn này nối đường biên giới theo kinh tuyến yêu sách bởi Việt Nam từ điểm cuối của đường biên giới trên đất liền đến điểm A11, gần cửa vào vịnh, rõ ràng được để lại để xem xét sau. Tuy nhiên, phía Việt Nam trích dẫn Công ước Pháp – Thanh năm 1887 là cơ sở cho việc phân định trong tương lai.

Mặc dù không xác định được điểm nối cụ thể, cửa vào vịnh rộng vượt quá 24 hải lý. Khoảng cách tư đảo Cồn Cỏ đến điểm gần nhất trên đảo Hải Nam khoảng 112 hải lý. Theo luật quốc tế, những vịnh quá rộng như thế này có thể được đóng và xem như vùng nước nội thủy nếu vịnh đó được xem là vịnh lịch sử.[8] Yêu sách vịnh lịch sử chứa đựng một số khía cạnh bất thường.

Khái niệm vịnh lịch sử, dù được công nhận trong luật pháp quốc tế, vẫn không được định nghĩa rõ ràng. Trong nỗ lực định nghĩa vịnh lịch sử, một tác giả đề xuất các tính chất như sau:

“(1) vùng nước được yêu sách phải liền kề với bờ biển của quốc gia đưa ra yêu sách.

(2) vùng nước đó phải được quốc gia ven biển yêu sách danh nghĩa chủ quyền (a titre de souverain)

(3) chủ quyền được yêu sách phại được thực thi hữu hiệu và trong một thời gian đủ dai.

(4) tình trạng được tạo ra phải là nhận thức chung, ít nhất của các quốc gia có lợi ích trực tiếp.

(5) cộng đồng quốc tế và chắc chắc bao gồm các quốc gia có lợi ích trực tiếp phải đồng ý với các quyền lãnh thổ được yêu sách.”[9]

Thậm chí, việc xuất hiện các yêu sách vịnh lịch sử mà vịnh đó được chia sẽ bởi nhiều hơn một quốc gia là tình huống ít phổ biến hơn tình huống một số ít các quốc gia đơn phương yêu sách vịnh lịch sử.[10]

Các khía cạnh chung của khái niệm vịnh lịch sử như xem xét phía trên và một số nghiên cứu vụ việc cụ thể về các vịnh được bao quanh bởi nhiều hơn một quốc gia gợi ý rằng, ít nhất các quốc gia bao quanh vịnh phải cùng đồng ý rằng vịnh đó là “vịnh lịch sử”. Yêu sách của Việt Nam về vịnh lịch sử hiện có nhiều vấn đề cần xem xét do Trung Quốc – một quốc gia bao quanh Vịnh Bắc Bộ – không yêu sách vịnh này như vùng nước lịch sử và có tranh chấp với yêu sách của Việt Nam về đường kinh tuyến bên trong vịnh.[11]

Điểm cơ sở và các đoạn cơ sở

Quan hệ giữa đường cơ sở được Việt Nam vạch với đường bờ biển của Việt Nam được thể hiện trong biểu đồ kèm theo. Một vài điểm cơ sở trên đảo được Việt Nam sử dụng có khoảng cách xa đáng kể tính từ đất liền. Điều này đặc biệt đúng với quần đảo Thổ Chu, nhóm đảo Côn Đảo và nhóm đảo Phú Quý (Catwick Islands), tất cả các điểm này đều cách đất liền và các nhóm đảo xung quanh ít nhất 50 hải lý. Hiệp định năm 1958 quy định “chuỗi đảo nằm sát ngay dọc theo bờ biển” để quốc gia có thể sử dụng đường cơ sở thẳng.[12] Bài báo trên tờ Nhân Dân ngày 15 tháng 11 năm 1982 cho rằng “mặc dù một số điểm cơ sở cách khoảng 50 – 70 hải lý tính từ đất liền và cách nhau hơn 100 hải lý, quy định của chúng ta về đường cơ sở của lãnh hải không xung đột với quy định của luật quốc tế và tập quán quốc tế.” Bài báo tiếp tục trích dẫn ba ví dụ về các đường cơ sở dài cá biệt cách rất xa đất liền: bao gồm Myanamar, Malaysia và Thái Lan.

“Đường ngấn nước thấp nhất dọc theo bờ biển” được quy định tại đoạn 1 tuyên bố năm 1977 của Việt Nam không được sử dụng trong bất kỳ đoạn nào của hệ thống đường cơ sở – chỉ các đảo và các điểm đơn lẻ ở trên đất liền là được sử dụng trong tuyên bố năm 1982.

Liên quan đến hệ thống đường cơ sở và quan hệ của nó với xu hướng chung của bờ biển, thảo luận trên tờ Nhân Dân kết luận rằng:

“Đường cơ sở của chúng ta nối các điểm cơ sở không đi chệch xa theo bất kỳ cách nào khỏi xu hướng hình dáng chữ S chung của bờ biển của chúng ta…”

Mặc dù đường cơ sở có hình dáng chữ S, nhưng có thể tranh cãi rằng chúng không theo sát xu hướng của đường bờ biển.[13] Điều 4 Công ước Geneva năm 1958 yêu cầu rằng:

“Việc vạch đường cơ sở không được đi chệch xa một cách đáng kể khỏi xu hướng chung của bờ biển…”

Trong một số vấn đề quan trọng, các cấu thành địa lý của đường cơ sở thẳng của Việt Nam không có vẻ tuân thủ Công ước mà Việt Nam đã ký và các công ước được dẫn chiếu trong bài báo được xuất bản trên tờ nhật báo chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam.

VN baselines-page-001

Trần H. D. Minh


[1] Vào ngày 06 tháng 12 năm 1982, Mỹ đã gửi phản đối về hệ thống đường cơ sở này cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vào ngày 01 tháng 02 năm 1983, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bác bỏ phản đối của Mỹ.

[2] Quần đảo Hoàng Sa cũng được Trung Quốc yêu sách; một phần hoặc toàn bộ quần đảo Trường Sa được yêu sách bởi Trung Quốc, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Để biết thêm chi tiết của các yêu sách trên, xem “Letter dated 11 February 1980 from the Permanent Representative of China to the United Nations addressed to the Secretary-General” và phụ lục kèm theo (A/35/93), Đại hội đồng LHQ, Khóa 35, ngày 12 tháng 02 năm 1980; FBIS, “Government Affairs Claim to Disputed Islands”, Daily Report: Asia & Pacific, ngày 12 tháng 9 năm 1983; Diane C. Drigot, “Oil Interests and the Law of the Sea: The Case of the Philippines”, Ocean Development and International Law, 12 (1982): 23-70; và “Letter dated 1 October 1979 from the Permanent Representative of Viet Nam to the United Nations addressed to the Secretary-General”, và phụ lục kèm theo (A/34/541), Đại hội đồng LHQ, Khóa 34, ngày 19 tháng 10 năm 1979.

[3] Hai Thanh (bút danh), “The Base Line of Vietnam’s Territorial Waters”, tờ Nhân dân (Hà Nội), ngày 15 tháng 11 năm 1982 (dịch [sang tiếng Anh] bởi Joint Publication Research Service, Southeast Asia Report, No. 1237, ngày 12 tháng 1 năm 1983).

[4] Mỹ không ký Công ước 1982 và Công ước này chưa có hiệu lực.

[5] Thỏa thuận về Vùng nước lịch sử giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Campuchia, ký ngày 7 tháng 7 năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh (dịch [sang tiếng Anh] trong FBIS, Daily Report: Asia & Pacific, ngày 9 tháng 7 năm 1982. Thỏa thuận này bị Bộ Ngoại giao của Chính phủ liên minh Campuchia Dân chủ bác bỏ vào ngày 10 tháng 01 năm 1983 (xem FBIS, Daily Report: China, ngày 19 tháng 01 năm 1983).

[6] J. R. V. Prescott, trong The Political Geography of the Oceans (New York: Wiley, 1975), tr. 95, đánh giá yêu sách tương tự của Ecuador trên Vịnh Guyaquil. Một ví dụ về đoạn cơ sở thẳng giữa các điểm thuộc các quốc gia khác nhau được thảo luận trong Marjorie M. Whiteman, Digest of International Law, Vol. 4, tr. 184 – 85.

[7] “[Hai nước] thỏa thuận sẽ đàm phán để giải quyết vấn đề đường phân định trong vùng nước lịch sử phù hợp với tuyên bố của CHXHCN Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1977 và luật của CHND Campuchia ngày 31 tháng 7 năm 1982. Sau đó, tọa độ của điểm 0 cũng sẽ được xác định cụ thể.” (Hai Thanh, “The Base Line of Vietnam’s Territorial Waters”)

[8] Không có sự phân biệt giữa từ “gulf” và “bay” trong ngôn ngữ pháp lý quốc tế thực hành hiện nay. Xem Mitchell P. Strohl, The International Law of Bays (The Hague: Martinus Nijhoff, 1963), tr. 54-65 và 233-329.

[9] Leo J. Bouchez, The Regime of Bays in International Law (Leyden: Sythoff, 1964), tr. 281.

[10] Vấn đề các vịnh lịch sử tiềm năng được bao quanh bởi nhiều hơn một quốc gia được khảo sát bởi Bouchez, Vịnh Fonseca, Vịnh Granville, Vịnh Aqaba, Vịnh Palk và Vịnh Manaar có thể [là ví dụ] phù hợp cho yêu sách Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Strohl xem xét trường hợp Vịnh Fonseca, Vịnh Aqaba, Vịnh Gilbraltar và Vịnh Fundy.

[11] Vịnh duy nhất mà Trung Quốc yêu sách công khai về vịnh lịch sử là Vịnh Bo Hai. Trung Quốc sử dụng từ “vùng nước lãnh hải” cho khu vực Vịnh Bắc Bộ và có tranh chấp với đường kinh tuyến theo Công ước Pháp – Thanh năm 1887 như đường phân định biển bên trong Vịnh. (xem “Letter dated 22 February 1983 from the Permanent Representative of China to the United Nations addressed to the Secretary-General” và tài liệu đi kèm (A/38/97), UN General Assembly, ngày 25/02/1983; Bộ Ngoại giao Mỹ, Văn phòng Địa lý, Limits in the Seas No. 43, “Straight Baselines: People’s Republic of China,” ngày 01/7/1972, và International Boundary Study No. 38, “China-Vietnam,” ngày 15/12/1978. Điều khoản liên quan đến Công ước Pháp – Thanh năm 1887 quy định rằng: “Các điểm mà hai Ủy ban không đạt được thỏa thuận và các chỉnh sửa tại khoản 2 Điều III của Hiệp ước ngày 09/06/1885 được giải quyết như sau: Kouang-tong, được hiệu là các điểm tranh chấp nằm về phía đông và đông bắc của Monkai, vượt quá đường biên giới được Ủy ban Phân định xác dịnh sẽ được giao cho Trung Quốc. Các đảo về phía đông của kinh tuyến Paris 105o43’ đông từ đường bắc-nam chạy qua điểm phía đông của đảo The’a-Kou hay Quan-chan (Trà Cổ) và đường biên giới cũng được giao cho Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyết thuộc về An Nam.” (“Les points sur lesquels l’accord n’avait pu se faire entre les deux Commissions, et les rectifications visees par le paragraphe 2 de l’Article III du Traite du 9 Juin, 1885, sont regles ainsi qu’il suit:-“Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestes qui sont situes a l’est et au nord-est de Monkai, au dela de la frontiere telle qu’elle a ete fixee par la Commission de Delimitation, sont attribues a la Chine. Les iles qui sont a l’est du meridien de Paris 105° 43′ de longitude est, c’est-a-dire, de la ligne nord-sud passant par la pointe orientale de l-Ile de Teh’ a-Kou ou Ouan-chan (Tra-co) et formant la frontiere, sont egalement attribuees a la Chine. Les Iles Go-tho et les autres iles qui sont a l’ouest de ce meridien appartiennent al’Annam.”)

[12] Điều 4. Câu chữ giống như thế được sử dụng trong Công ước Luật Biển năm 1982.

[13] Xem nghiên cứu so sánh về thực tiễn quốc tế và khái niệm xu hướng chung tại Prescott, tr. 81 – 95.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Create a website or blog at WordPress.com

Up ↑

%d bloggers like this: